NHẠC TẾT 2026
CẢM NHẬN CỦA PHỤ HUYNH VỀ NGÀY TRẢI NGHIỆM
Võ nguyên giáp

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:18' 19-04-2024
Dung lượng: 771.9 KB
Số lượt tải: 8
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:18' 19-04-2024
Dung lượng: 771.9 KB
Số lượt tải: 8
Số lượt thích:
0 người
Cuốn sách này được Công ty Cổ phần Sách Thái Hà và Nhà xuất bản Thế Giới hoàn thành với sự giúp
đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân và tổ chức.
Trước hết chúng tôi xin chân thành cảm ơn dịch giả Nguyễn Văn Sự - người đã giúp chúng tôi liên hệ
để có được bản quyền tiếng Pháp của cuốn sách và đã chuyển ngữ cuốn sách sang tiếng Việt. Chúng tôi
xin gửi lời cảm ơn đặc biệt tới gia đình và Văn phòng Đại tướng Võ Nguyên Giáp: ông Võ Điện Biên,
ông Võ Hồng Nam, Đại tá Trịnh Nguyên Huân đã giúp hiệu đính nội dung cuốn sách. Chúng tôi xin
được gửi lời cảm ơn tới hai nhà sử học: ông Alain Ruscio (Pháp) và ông Dương Trung Quốc đã viết
lời giới thiệu cho cuốn sách trong lần xuất bản tiếng Việt đầu tiên.
Chúng tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý độc giả để cuốn sách được hoàn chỉnh hơn
trong những lần in sau.
Lời giới thiệu
Đến nay, đã có nhiều cuốn sách của người nước ngoài viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một trong
những nhân vật nổi bật hàng đầu của lịch sử hiện đại Việt Nam mà tên tuổi gắn liền với cuộc cách
mạng giành độc lập dân tộc, hai cuộc kháng chiến chống lại hai đế quốc lớn bảo vệ nền độc lập dân
tộc và thống nhất quốc gia cũng như các cuộc chiến tranh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.
Đó cũng là tên tuổi gắn liền với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.
Nhưng tác giả của cuốn sách này lại là một người đặc biệt.
Georges Boudarel là một người đặc biệt, ông là một người Pháp nhưng lại đứng trong hàng ngũ của
những người chiến đấu chống lại nước Pháp thực dân, cụ thể hơn là đứng trong quân ngũ của đạo quân
do Tướng Giáp làm Tổng tư lệnh. Ông đến Việt Nam với tư cách là một cử nhân triết học để dạy môn
lịch sử trong một trường trung học ở Sài Gòn. Có lẽ chính từ những tri thức lịch sử và triết lý mà nước
Pháp của ông đã đề xướng “Tự do - Bình đẳng - Bác ái”, ông đã lựa chọn như nhiều người Pháp tiến
bộ sinh sống ở Việt Nam mong muốn gìn giữ sự hòa hiếu giữa hai quốc gia sau khi nước Việt Nam đã
tuyên bố độc lập và thoát khỏi chế độ thuộc địa Pháp giống như nước Pháp của họ thoát khỏi ách
chiếm đóng của chủ nghĩa phát-xít Đức.
Vì thế, khi cuộc chiến tranh Việt - Pháp bùng nổ (tháng 12 năm 1946), G. Boudarel, một thành viên đã
tham gia nhóm Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác, đã lựa chọn con đường vào chiến khu của những người
Việt Nam kháng chiến để chống lại những tàn dư của chủ nghĩa thực dân. Ông tham gia cuộc kháng
chiến không bằng vũ khí sát thương mà bằng sự thức tỉnh đạo quân viễn chinh hãy chấm dứt cuộc chiến
tranh phi nghĩa mà họ đang tham dự. Ông tham gia vào công tác binh vận bằng ngòi bút và những kiến
thức về triết học và lịch sử của mình.
Sau khi thực dân Pháp đã thảm bại ở Điện Biên Phủ, phải chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược cũng là
rút lui khỏi vũ đài lịch sử ở Việt Nam, G. Boudarel vẫn ở lại Việt Nam làm việc trong lĩnh vực văn
hóa đối ngoại tại Đài Phát thành rồi Nhà xuất bản Ngoại văn và trực tiếp cộng tác với các nhà nghiên
cứu Việt Nam làm tập san Etudes Vietnamiennes.
Nếu như G. Boudarel đã có nhiều đóng góp tích cực giúp Việt Nam đánh thắng chủ nghĩa thực dân thì
ông lại không thành đạt khi ở lại Việt Nam tham gia vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì thế,
cũng đến lúc ông phải chia tay với Việt Nam, nơi ông đã dành trọn tuổi thành xuân cho một cuộc đấu
tranh chính nghĩa không chỉ cho nhân dân Việt Nam mà cho chính cả nước Pháp Tổ quốc của ông.
Tuy rời xa mảnh đất Việt Nam, nhưng G. Boudarel vẫn dành tất cả sự nhiệt tâm cho việc nghiên cứu và
ủng hộ Việt Nam. Con người ấy vẫn giữ được phẩm chất một nhà giáo, được các đồng nghiệp Việt
Nam yêu quý biến tấu tên gọi tiếng Pháp thành tiếng Việt là “Bụt” (Boudha = Phật). Rồi cũng vì toàn
tâm gắn bó với Việt Nam mà ông đã từng bị một số phần tử cực đoan tạo nên một vụ án bôi nhọ danh
dự và vu khống rằng ông đã phản bội nước Pháp khi cộng tác với Việt Minh. Chính những người Pháp
chân chính đã cùng ông đấu tranh vượt qua những thử thách ấy và Boudarel vẫn trọn vẹn trung thành
với tình yêu Việt Nam và công lý của mình.
Tình yêu ấy được thể hiện bằng những việc làm không biết mệt mỏi thể hiện trong những bài khảo cứu
hay những cuốn sách viết về Việt Nam của ông mà cuốn Giáp các bạn đang có trên tay bản dịch tiếng
Việt là một thành tựu. Tên cuốn sách là một cách gọi thân mật nhưng vẫn giữ được sự trân trọng của
một người nước ngoài song lại không xa lạ đối với “người anh Cả” của Quân đội nhân dân Việt Nam
mà Boudarel đã từng tham gia.
Đó không chỉ là một cuốn tiểu sử, đó là một pho sử mà tên tuổi “Giáp” đã gắn bó, cống hiến và để lại
những dấu ấn rất đậm nét xuyên suốt toàn bộ lịch sử hiện đại Việt Nam, lịch sử Giải phóng dân tộc
chống chủ nghĩa thực dân trong cương vị của vị Tổng tư lệnh - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng gắn với
huyền thoại từ Điện Biên Phủ (1954) cho đến “Điện Biên Phủ trên không” (1972) rồi Chiến dịch mang
tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (1975).
Cần nói thêm rằng, trước cuốn này, ngay từ năm 1970, giữa lúc cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước
của nhân dân Việt Nam còn đang diễn ra ác liệt, tác phẩm Giương cao ngọn cờ chiến tranh nhân dân và
đường lối quân sự của Đảng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được Nhà xuất bản Preagers của Mỹ
xuất bản và G. Boudarel đã viết lời giới thiệu với nhan đề “Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai Quan sát và dự báo”.
Bằng niềm tin từ những trải nghiệm của cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, tức là cuộc Kháng
chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp mà G. Boudarel từng tham gia, ông đã phân tích và
khẳng định cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam sẽ đi đến kết cục như trước
là Mỹ không thể nào thắng được. Ông cũng tập trung phân tích vai trò và đường lối quân sự của Đại
tướng Võ Nguyên Giáp vẫn ở cương vị Tổng tư lệnh lực lượng vũ trang như cuộc chiến tranh lần trước
sẽ làm cho các tướng lĩnh Mỹ phải thất bại bởi sức mạnh của một dân tộc có truyền thống chống ngoại
xâm lại có một vị tướng tài và từng trải.
Trong quan niệm của G. Boudarel, Võ Nguyên Giáp là sự kế thừa có chọn lựa những tư tưởng quân sự
của các nhà cách mạng hiện đại như Lênin và Mao Trạch Đông cũng như các nhà chiến lược quân sự
kinh điển như Clausewitz và Tôn Tử mặc dù khi trai trẻ, nhà giáo dạy lịch sử trẻ tuổi lại rất say mê
Napoléon. Nhưng trên hết, Võ Nguyên Giáp là sự vận dụng trung thành với tư tưởng của Hồ Chí Minh
cũng là của Đảng về Chiến tranh nhân dân Việt Nam mà cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất là
một thành công. Vì thế, sự quan sát, phân tích và dự báo của G. Boudarel trở nên sắc sảo và thuyết
phục...
Do đó, khi G. Boudarel viết cuốn GIÁP như tiểu sử của một nhà quân sự lớn, bên cạnh những phân
tích khoa học, tác giả còn gửi gắm vào đó nhiều tâm đắc đối với lịch sử Việt Nam hiện đại mà Đại
tướng Võ Nguyên Giáp là một trong những hiện thân tiêu biểu, cái lịch sử mà chính tác giả cuốn sách
từng là “người trong cuộc”.
Tôi đã có cơ hội gặp Georges Boudarel trong những năm tháng cuối cùng khi ông sống độc thân trong
một ngôi nhà nhỏ ở Paris khiêm nhường nhưng chất chứa đầy sách và những tư liệu quý giá về lịch sử
và văn hóaViệt Nam. Tôi và các bạn đồng nghiệp Việt Nam đã từng lên tiếng động viên, ủng hộ khi
ông bị những kẻ cực đoan bôi nhọ. Vì thế, một thập niên sau ngày tác giả qua đời (2003), được giới
thiệu cuốn sách viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị Chủ tịch Danh dự của Hội Sử học Việt Nam
của người đồng nghiệp đáng kính, Giáo sư sử học Georges Boudarel, đối với tôi là một vinh dự.
Xin trân trọng giới thiệu với quý bạn đọc!
Nhà sử học Dương Trung Quốc
Hà Nội, tháng 11 năm 2012
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
GIÁP của Georges Boudarel: Một cuốn sách
nên đọc
Năm 1975, chiến tranh kết thúc ở Việt Nam. Đó là cuộc chiến tranh dài nhất, làm thiệt mạng nhiều
người nhất trong thế kỷ XX, được biết đến trên mọi châu lục, bên cạnh những cuộc chiến tranh khác.
Chủ nghĩa thực dân Pháp, rồi chủ nghĩa đế quốc Mỹ lần lượt mưu toan ngăn chặn làn sóng cách mạng
Việt Nam nhưng không thành công. Về phía Pháp, 9 tướng lĩnh cao cấp, trong đó có những vị có nhiều
kinh nghiệm nhất (từ tướng Leclerc đến tướng Salan, không kể trước đó có d'Argenlieu, De Lattre...)
lần lượt nắm quyền chỉ huy đội quân viễn chinh Pháp. Trong giai đoạn chiến tranh Mỹ xâm lược Việt
Nam, 4 tướng lĩnh, cũng là những người dày dạn kinh nghiệm đã lần lượt thay nhau, trong đó có tướng
Westmoreland và Abrams. Tất cả đều xuất thân từ những trường quân sự nổi tiếng nhất phương Tây,
như Saint Cyr, West Point...
Đối mặt với họ, một người Việt Nam chưa từng ngồi trên ghế các trường quân sự lớn, nhưng đã tự học
chiến lược, chiến thuật trên thực địa, đó là VÕ NGUYÊN GIÁP. Chính ông đã kể cho tôi trong những
điều kiện nào ông đã tiếp cận nghệ thuật chiến tranh: Chúng tôi không qua một trường lớp quân sự nào.
Khi còn ở Hà Nội năm 1940, các đồng chí của chúng tôi truyền đạt nghị quyết của Đảng về chuẩn bị
đấu tranh vũ trang, tôi vào Thư viện Quốc gia tìm trong cuốn Đại từ điển Larousse những mục từ về kỹ
thuật quân sự. Tôi nhớ đã đọc mục từ “lựu đạn”. Tôi cố gắng tìm hiểu nhưng khó quá, “lựu đạn tấn
công”, “lựu đạn phòng ngự”, “hạt nổ”. Lúc đó tôi không hiểu thế nào là “bộ phận nổ”[1].
[1] Alain Ruscio, Vo Nguyên Giap, une vie, Ed Les Indes Suivantes, 2010. Xem thêm Võ Nguyên
Giáp, Một cuộc đời, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 50-51.
Một mình chống lại khoảng 15 sĩ quan cao cấp được đào tạo bài bản tại các trường quân sự phương
Tây! Cuộc đấu tranh xem ra không cân sức...
Đúng vậy, nhưng Võ Nguyên Giáp đâu phải chỉ có một mình! Ông có nhân dân Việt Nam cùng kề vai
sát cánh. Người Việt Nam giàu truyền thống đấu tranh chống xâm lược nước ngoài, nhiều thế kỷ chống
kẻ thù phương Bắc, chống lại người Pháp trong thời kỳ chinh phục thuộc địa, sau đó từ năm 1945, tiến
hành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, hiện thân trong hình ảnh cao cả của Hồ Chí Minh. Với Bác
Hồ, với Giáp và các bạn chiến đấu của mình, cụm từ “chiến tranh nhân dân” không ngừng trở thành
khẩu hiệu động viên toàn thể dân tộc, được đem ra thực hiện hàng ngày. Ít nhà quan sát người Pháp
trước năm 1946, và còn ít hơn nữa các nhà quan sát người Mỹ trước những năm 1960 có thể hiểu
được điều này.
Làm sao “một dân tộc nhỏ bé” của những người nông dân mà họ gọi một cách coi thường là “những
người nhà quê” lại có thể đương đầu với vũ khí hiện đại? Làm sao những người du kích quần áo rách
rưới đi dép cao su lại có thể đua tranh với các “ông lớn” da trắng mặc quân phục dã chiến, đi ủng cao
và được trang bị đến tận răng?
Một người bạn chiến đấu khác của Bác Hồ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, cách đây không lâu đã kể cho
tôi một giai thoại sau. Năm 1946 khi ông dẫn đầu Phái đoàn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
đến dự Hội nghị Fontainebleau, Max André, người dẫn đầu Phái đoàn Pháp, đã phát biểu với giọng
trịch thượng: “Các ông hãy tỏ ra biết điều, hãy nhường Nam Kỳ cho chúng tôi. Các ông không muốn
chiến tranh đấy chứ? Nếu chẳng may chiến tranh xảy ra, quân lính của các ông chỉ cầm cự được dăm
tháng là cùng!”. Tôi còn nhớ khi Thủ tướng Phạm Văn Đồng kể lại cho tôi câu chuyện đó, ông phá lên
cười, một cái cười rất tự nhiên, cứ như ai nói đến chuyện đó cũng phải cười như thế!
Thế mà thực dân Pháp đã bại trận. Nước Mỹ được trang bị vũ khí tối tân nhất thế giới cũng bại trận.
Đương nhiên nhân dân Việt Nam phải trả giá bằng bao nỗi đau thương, mất mát! Nhưng thực tế còn
kia: chiến thắng năm 1975 đang và sẽ còn là một thời điểm quan trọng nhất của thế kỷ XX.
Cuốn sách GIÁP bằng tiếng Pháp của Boudarel ra mắt độc giả từ năm 1977, nghĩa là hai năm sau
chiến thắng vĩ đại mùa Xuân 1975 của Việt Nam. Có lẽ đây là điều trách cứ duy nhất chúng tôi có thể
dành cho nhà sử học này. Bởi với kinh nghiệm, hiểu biết sâu sắc về con người, đất nước Việt Nam, “tổ
quốc thứ hai” của ông, thông thạo tiếng Việt, đáng lẽ Boudarel phải viết sớm hơn thế, ngay từ trong
chiến tranh mới phải. Bởi nếu thế, có lẽ ông sẽ giúp chúng ta hiểu được nguyên nhân nào đã khiến
nhân dân Việt Nam giành được thắng lợi.
Thực vậy, cuốn sách này có lợi thế lớn hơn nhiều so các cuốn sách khác đã viết về GIÁP sau đó:
Không còn bám vào câu hỏi “Giáp và nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi như thế nào?”,
nhưng Boudarel đã giải thích “Tại sao” họ lại chiến thắng. Và muốn giải đáp được câu hỏi trên, phải
tìm hiểu lịch sử đất nước này từ rất lâu trước thế kỷ XX, điều đó Boudarel đã nắm được và chuyển tải
sang cuốn sách của ông.
Tại Pháp, cuốn sách này đã không được hoan nghênh như đáng lẽ phải có. Tình hình biến chuyển nhanh
và năm 1977, âm vang của chiến thắng 1975 của Việt Nam đã bị những sự kiện quốc tế khác che phủ.
Báo chí không nói nhiều đến công trình nghiên cứu mang tính đổi mới này. Hơn nữa, từ năm 1978,
bằng chiến dịch xấu xa vu cáo Việt Nam: với những “thuyền nhân”, rồi những khó khăn của đất nước ở
biên giới Tây Nam (Khmers Đỏ đánh phá) và phía Bắc (Trung Quốc khiêu khích), phương Tây tưởng
đã đến lúc phục thù. Chiến dịch vu cáo này đạt tới đỉnh điểm khi Việt Nam giúp giải phóng
Campuchia, rồi tiếp đó là cuộc chiến tranh biên giới ở phía Bắc. Rất nhiều người Pháp chúng tôi
trước sau kiên trì ủng hộ Việt Nam: đó là những người cộng sản, những lực lượng tiến bộ, cả những
người Công giáo cánh tả, những hội viên Hội Hữu nghị Pháp-Việt. Georges Boudarel lúc đó tuy có cái
nhìn phê phán “tổ quốc thứ hai” của ông nhưng vẫn đứng bên cạnh chúng tôi.
Sau này người ta biết rằng bản thân Boudarel cũng là đối tượng của một chiến dịch khá mạnh gây thù
hằn của những kẻ thua trận trong lịch sử, “những người cũ ở Đông Dương” và một phần cánh hữu của
Pháp. Tôi thuộc về những người đã bênh vực Boudarel lúc đó. Tôi còn nhớ tôi đã gặp Boudarel trong
ngôi nhà ông nghỉ hưu vào những năm cuối đời. Lúc đó sức khỏe ông đã sa sút lắm nhưng vẫn minh
mẫn, luôn đọc rất nhiều, hay hỏi thăm tin tức về Việt Nam...
Giờ đây cuốn sách được dịch sang tiếng Việt, quả là một việc làm đáng hoan nghênh. Bạn đọc Việt
Nam ngày nay có thể tìm hiểu qua những trang sách hết sức phong phú nhưng cô đọng, cung cấp nhiều
thông tin quý giá và bổ ích về cuộc đời của một trong những nhân vật vĩ đại của thời đại này, Đại
tướng Tổng tư lệnh VÕ NGUYÊN GIÁP.
Đây đồng thời cũng là một sự trân trọng của Việt Nam ngày nay dành cho một trong những người bạn
trung thành sáng suốt nhưng có khi bị chỉ trích - Georges Boudarel.
Alain Ruscio, nhà sử học Pháp
Paris, tháng 11 năm 2012
VÕ NGUYÊN GIÁP
Một người tên là Văn
Ngày 24 tháng 12 năm 1944, chiều muộn. Một nhóm 32 người men theo con đường trong một góc
khuất vùng rừng núi tỉnh Cao Bằng, phía cực bắc của Việt Nam, ngay gần biên giới Việt - Trung. Đi
cuối nhóm đầu tiên là trưởng nhóm, một người tên là Văn. Hoạt động ở vùng này từ ba năm nay, chưa
bao giờ Văn có nhiều người dưới quyền đến thế, chưa bao giờ anh dám đi giữa ban ngày ban mặt với
một nhóm người trên đường như thế. Khi quay lại để nhìn cả đội, cảnh hàng người chạy dọc theo
những khúc quanh của con đường núi khiến anh ấm lòng. Đầu đội nón bọc vải, mình mặc quần áo
chàm, chân quấn xà cạp, có thể khiến anh vui vui khi thấy mình trông thật buồn cười. Cả đội ăn mặc
giống lính dõng.
Mục tiêu của họ là gì? Đó là Phai Khắt, một đồn nhỏ. Từ hơn một năm nay, đồn có khoảng 10 lính
dõng, do một viên thiếu tá người Pháp làm chỉ huy, có11 vài ngôi nhà tranh bên bờ suối, đối diện với
một nương lúa nằm sát trong núi. Đây là một bản Việt Minh “hoàn toàn”: toàn bộ người dân, kể cả
chức dịch đều “hoàn toàn” theo Việt Minh. Không có gì đáng lo. Người dân đã cung cấp mọi thông tin.
17 giờ ngày 25 tháng 12, đội chìa “Giấy đi tuần” cho tên lính gác rồi đi thẳng vào đồn, theo sau Thu
Sơn mặc bộ kaki đóng giả đội sếp.
- Chúng tao đang đi tuần, quan đồn có nhà không? Thu Sơn hỏi tên lính gác, giọng hách dịch rồi đàng
hoàng tiến vào đồn. Người của anh nhanh chóng tiếp cận nơi để súng, trong khi hai nhóm khác bao vây
nhà bọn lính ở. Lúc đó, lính địch đứa đang ăn cơm trong nhà, đứa thu dọn quần áo, đứa quét dọn, sửa
hàng rào. Thu Sơn hô lớn: “Rassemblement! Rassemblement général! Le chef de poste revient du
district!” (Tập hợp! Tập hợp! Đồn trưởng về!). Một lát sau, khi toàn bộ lính đã tập hợp trước mặt, Thu
Sơn đổi giọng:
- Chúng tôi là quân cách mạng, anh em đầu hàng sẽ không giết ai hết, giơ tay lên!
Bị bất ngờ, không kịp trở tay, toàn bộ lính địch buộc phải đầu hàng. Giữa lúc đó, người của tổ canh
gác cách đồn 3 kilômét phóng ngựa tới báo tin tên đồn trưởng đang đi ngựa trở về, theo sau hắn có 10
tên lính không mang súng. Đội quyết định bắt tên đồn trưởng. Những tên lính bị bắt được đưa ra phía
sau đồn, chiến lợi phẩm được thu dọn, rồi ai nấy vào vị trí. Văn, Thu Sơn và Hoàng Sâm nấp dưới
mái hiên. Văn nói nhỏ: “Khi nó vào, tôi sẽ hô “Giơ tay lên”, nếu nó giơ tay các đồng chí lập tức xông
ra bắt sống. Có lệnh mới được nổ súng”. Nhưng khi Văn vừa hô “Giơ tay lên” thì nhiều tiếng súng
vang lên, cả người và ngựa đều bị tiêu diệt. Do quá căm thù, không kìm được nên một số đồng chí đã
nổ súng ngay.
Việc thu dọn chiến trường được tổ chức ngay với sự giúp đỡ của nhân dân. Tất cả những gì có thể sử
dụng trong cuộc sống hàng ngày đều được để lại cho dân làng. Những vũ khí thu được được trang bị
ngay cho đội, súng kíp giao lại cho du kích địa phương. Số súng này đủ trang bị cho nửa trung đội,
nhưng thu được rất ít đạn.
Nửa đêm hôm ấy, đội dừng chân ở một bản cách đó 15 kilômét để kiểm điểm rút kinh nghiệm trận
đánh vừa qua. Tới 3 giờ sáng ngày 26 tháng 12, cả đội tiếp tục hành quân đến Nà Ngần, một ngôi nhà
được biến thành đồn lính, có 22 lính khố đỏ, do hai sĩ quan người Pháp chỉ huy, nằm cách đồn Phai
Khắt 25 kilômét. Đội hy vọng sẽ thu được đạn dược ở đây. Sáng sớm, đội dừng lại. Cả đội thay quần
áo, cải trang bằng những bộ quần áo lính dõng, lính tập mới thu được ở Phai Khắt, giả làm một toán
lính dõng, lính khố đỏ đang dẫn giải “ba cộng sản” bị trói. Kịch
bản có thay đổi. Khi đến cổng, Thu Sơn lại chìa giấy cho lính gác xem, trong khi một đồng chí khác đi
sau rút thuốc lá ra mời và châm lửa cho bọn gác. Tò mò, lính gác trên chòi canh liếc nhìn:
- Lại bắt được cộng sản người Mán à?
Trong khi cuộc chuyện trò diễn ra với nhóm thứ hai, thì Thu Sơn đi thẳng vào trong đồn. Lúc này đồn
do một tên đội người Việt, nổi tiếng phản động, chỉ huy thay cho hai sĩ quan lên tỉnh. Cũng như ở Phai
Khắt, bọn lính đang làm nhiều việc khác nhau, một số thu dọn chăn màn, một số đi rửa mặt. Tên đội
ngồi ở bàn làm việc; vũ khí vẫn còn trên giá để súng, trong đó bốn khẩu đã bị Việt Minh lấy ngay ở lối
vào. Thu Sơn chĩa khẩu tiểu liên vào tên đội. Bất ngờ tên đội định đặt tay vào khẩu súng của hắn đặt
trên bàn, nhưng trước khi hắn có thời gian làm việc đó thì đã bị hạ. Nhóm đang nói chuyện ở lối vào
vô hiệu lính gác, bọn lính trong đồn rất hoảng hốt. Mọi việc diễn ra rất nhanh. Ba tên lính liều chết
chống cự đều bị tiêu diệt. Ba du kích người Tày được cử đến giải thích. Tù binh rất ngạc nhiên khi
thấy các nữ chiến sĩ vai mang súng, lưng đeo đạn, nói năng lưu loát, giải thích cho họ hiểu chủ trương
chính sách của Việt Minh. Đa phần tù binh xin được trở về quê, họ được trả lại quân trang.
Hai mươi phút sau, đội lại ra đi sau một cuộc giải thích nhanh cho dân làng mà họ phải ngăn không
cho đi theo đội.
Đến tối, toàn đội vượt qua quốc lộ 3A (Cao Bằng - Nguyên Bình) và đi vào vùng rừng núi đá vôi Gia
Bằng. Cả ngày, anh em chỉ ăn một bữa cơm, nhưng vẫn cố gắng đi liên tục không nghỉ. Một đội viên đã
tổng kết thành một câu hài hước: “Quân cách mạng chúng tôi ăn thì mỗi ngày một bữa, đánh thì mỗi
ngày hai trận”. Đội đi cả đêm trong rừng, đến tận Lũng Dẻ, một bản của đồng bào Mông, giữa khu du
kích Thiện Thuật (tên của một chí sĩ kháng Pháp ở đồng bằng sông Hồng khi Pháp chiếm Bắc Kỳ trong
những năm 1880). Khu du kích nằm trong một lòng chảo khá rộng, bao quanh là những vách đá tai mèo
hiểm trở, một thành trì tự nhiên thực sự. Trong mười ngày tại Lũng Dẻ, cả đội nghỉ ngơi, chấn chỉnh,
củng cố lực lượng và huấn luyện thêm. Khi xuất phát, đội được phát triển thành đại đội. Một bộ
phận nhỏ do Hoàng Văn Thái chỉ huy, phụ trách công tác tham mưu - tình báo, đi xuống phía nam hoạt
động tuyên truyền, mở rộng cơ sở. Đại bộ phận, do Văn chỉ huy, đi lên phía bắc, hướng về đồn Đồng
Mu, phải đi qua Trung Quốc, gần Bảo Lạc, cách đường ở phía bắc Cao Bằng 100 kilômét, trong đó 60
kilômét là đường mòn hẹp và hiểm trở. Hoạt động của Việt Minh còn yếu trong vùng địa hình hiểm trở
lởm chởm đá tai mèo, rừng núi lô nhô, giống như một vịnh Hạ Long trên cạn với đỉnh núi Pia Oắc
cao 1931 mét ở phía nam. Không thể đi theo đường dễ, cũng không đi được vào ban ngày, cả đội đi
liên tục, theo nhiều điểm, có khi lại phải đi xuống thung lũng và im lặng vượt qua những điểm gác của
địch, trong tiếng trống của lính gác đêm. Đồn Đồng Mu được xây dựng rất kiên cố trên một ngọn đồi
cao vì phải thường xuyên đối phó với bọn phỉ từ phía Trung Quốc. Quân lính trong đồn có hơn 40 lính
khố đỏ, do ba tên sĩ quan Pháp chỉ huy. Đồn có nhiều lô cốt, tường dày có lỗ châu mai, giao thông hào
và dây thép gai bao bọc xung quanh. Không thể sử dụng cách cải trang đột nhập đồn, chỉ còn cách
vượt tường đột nhập và kêu gọi quân bên trong đầu hàng. Đội chia thành bốn tổ, xuất phát trong đêm,
leo lên đồi và vượt hàng rào dây thép gai. Đội đang đột nhập thì bị địch hỏi:
- Ai?
Tình huống này nằm ngoài dự kiến.
- Chúng tôi là Việt Minh đến lấy súng của Tây, không đánh các anh em.
Một quả lựu đạn và một loạt đạn nổ vang. Từ 23 giờ đến 2 giờ sáng, bên trong đồn, hai đội đã vào
được và bắn nhau với địch dữ dội. Việt Minh vừa bắn vừa hát để động viên khí thế chiến đấu và báo
hiệu cho các chiến sĩ liên lạc. Tuy nhiên, họ lại làm lộ vị trí chiến đấu, khiến quân địch tập trung hỏa
lực bắn tới. Đến rạng sáng, ban chỉ huy hạ lệnh rút khỏi đồn. Đội mất một tiểu đội trưởng, thu năm
súng trường mousqueton và một số đạn, bắt bốn tù binh. Các tù binh này khai đồn đã trong tình trạng
báo động.
Một cuộc hành quân mới lại bắt đầu, mọi người vừa đi vừa nghỉ dọc đường và ăn cơm nắm. Sau khi
nghỉ ngơi, đội cẩn thận xóa mọi dấu vết nhỏ nhất, từ những chiếc lá gói thức ăn đến hạt cơm rơi xuống
đất vì chúng có thể để lộ dấu vết. Rồi cả đội lại lên đường. Đến vùng an toàn hơn, các chiến sĩ tản ra
thành những đội nhỏ đi vào bản để tuyên truyền. Tại Nà Ngần, họ có được thành quả đầu tiên: thu 16
súng trường và nhiều tù binh. Nhưng bây giờ, việc cần ưu tiên là tuyên truyền. Hồ Chí Minh đã nhắc đi
nhắc lại điều này: “Chính trị trọng hơn quân sự, vũ trang tuyên truyền trọng hơn tác chiến”.
“Một chiến thắng chỉ được 100 người biết sẽ chỉ tác động đến 100 người; nhưng nếu ta cho 1000
người biết, thì cũng như ta đã mang về 10 chiến thắng khác hoặc một chiến thắng lớn hơn 10 lần”.
Người sau này viết lên những dòng này chính là Văn, mà Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân
của ông vừa có những trận tấn công đầu tiên. Sáu tháng sau, ông được cả thế giới biết đến với tên thật
Võ Nguyên Giáp.
Chàng sinh viên, thầy giáo dạy sử và người
chiến sĩ cách mạng
Sinh ở An Xá, tỉnh Quảng Bình vào năm 1910[1], Giáp lúc nhỏ sống ở một vùng đồng bằng nhỏ hẹp
ven biển miền Trung phía bắc vĩ tuyến 17. Nơi đây từ thế kỷ XI là bàn đạp của cuộc nam tiến không gì
ngăn nổi của dân tộc Việt Nam. Ông đã lớn lên ở một vùng đất hẹp vào bậc nhất của Việt Nam, có
những cánh đồng lúa nước kẹp giữa một bên là những cồn cát trắng xóa mênh mông chạy dọc bờ biển
và bên kia là những mỏm núi xanh trơ trụi trong dãy Hoành Sơn uốn lượn giữa những cánh rừng rậm,
nơi đây vào mùa hè những cơn gió tây khô rát gọi là gió Lào từ lục địa Nam Á nóng bỏng thổi ra biển.
[1] Theo xác nhận của gia đình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25/8/1911. (Ghi chú của Văn
phòng Đại tướng Võ Nguyên Giáp - VPĐT).
Cụ bà thân sinh, những hôm không bận việc đồng áng thì cặm cụi bên khung cửi. Còn cụ ông là một
nông dân có học thức tự cày cấy ruộng nhà, và truyền lại cho cậu bé Giáp chữ nghĩa, vốn tri thức và
tình yêu quê hương đất nước. Đối với những ai hiểu biết thì mỗi tấc đất ở đây đều mang một chứng
tích lịch sử. Phía bắc tỉnh là động Phong Nha sâu hút, thu hút nhiều khách hành hương đến cầu nguyện
trước một bàn thờ còn sót lại của người Chăm, bên cạnh những nhũ đá lung linh dưới ánh sáng khi mờ
khi tỏ từ cửa động rọi vào. Trên bờ biển, Đèo Ngang hùng vĩ nằm án ngữ biển, nơi đây Bà Huyện
Thanh Quan, nữ thi sĩ của thế kỷ XVIII từng ca ngợi vào một buổi chiều tà: “Nhớ nước đau lòng con
cuốc cuốc”. Cậu bé Giáp tuy ở tuổi ấu thơ cũng đã hiểu rằng nữ tác giả khi nói đến con cuốc cuốc là
nói đến non sông đất nước vì tiếng con chim cuốc theo âm Hán Việt đồng âm với tiếng quốc có nghĩa
là đất nước quê hương.
Cách làng An Xá một quãng ngắn, còn sót lại di tích của thành lũy do nhà quân sự kiêm thầy giáo dạy
chữ Nho, Đào Duy Từ, tác giả cuốn Hổ trướng khu cơ (Bí quyết phép dùng binh) - một cuốn sách giáo
khoa dạy nghệ thuật quân sự cho các tướng lĩnh thời bấy giờ - xây dựng vào cuối thế kỷ XVII được
người dân vùng này truyền tụng là lũy Thầy. 25 năm trước khi cậu bé Giáp ra đời, toàn bộ vùng đất
Quảng Bình này từng là địa bàn hoạt động của nghĩa quân Cần Vương, hưởng ứng lời kêu gọi chống
Pháp của vua Hàm Nghi. Ở phía bắc, trong tỉnh kế bên cũng có một văn thân là cụ Phan Đình Phùng đã
xây dựng căn cứ kháng chiến trên núi Vụ Quang trong mười năm và đến năm 1910, một toán nghĩa
quân còn về đồng bằng quyên góp lương thực và gây quỹ ủng hộ kháng chiến chống Tây. Nhưng sau
năm 1919, dường như quá khứ vẻ vang ấy đã vĩnh viễn hết thời, không có gì cưỡng lại được. Người ta
bước vào một thời đại mới, bút lông mềm mại đã nhường chỗ cho bút sắt vừa viết vừa phát ra tiếng
cót két của hãng Sergent-Major từ phương Tây đem tới.
Năm 1923, cậu bé Giáp tạm biệt cha mẹ già vào Huế, cố đô của triều đình nhà Nguyễn xưa, cách nhà
150 kilômét, để học ở trường Quốc học. Vào thời đó, các trường học từ bậc trung học trở lên đều đặt
ở các thành phố, thị xã và đô thị lớn, và được “chính trị hóa” một cách khác thường. Học sinh không
ồn ào, hiếu động mà rất chăm chỉ đèn sách. Ở lớp, các cô cậu im lặng, ngồi nghiêm chỉnh nghe lời thầy
giảng hay ghi ghi chép chép, chỉ còn nghe được tiếng ruồi bay qua bay lại. Một số cố học để sau này
ra làm quan. Nhiều người khác cốt sao sau này nên người, để “cứu nước, đánh giặc ngoại xâm”, “canh
tân đất nước”. Những ý nghĩ tốt đẹp này ám ảnh tâm trí những con người trẻ tuổi. Đi đâu cũng thấy
những nhóm nhỏ ra đời mà trong buổi lễ gia nhập, các cậu “thề đấu tranh, hy sinh đến cùng cho sự
nghiệp”.
Người ta xì xào, bàn tán về con người có sức hấp dẫn kỳ lạ mang tên Nguyễn Ái Quốc (sau này đổi tên
là Hồ Chí Minh), tác giả áng văn đả kích nổi tiếng có tựa đề: Bản án chế độ thực dân Pháp, cùng với
những người cùng chí hướng đang hoạt động tại nước Nga Xô viết. Người ta đưa cho Giáp một bản và
anh đã đọc say sưa. Báo chí thực dân đã dành toàn bộ phương tiện tuyên truyền tốt nhất để vu cáo
những người Bôn-sê-vích, thậm chí có những người có xu hướng ôn hòa, chỉ đưa ra những đề nghị cải
cách xã hội khiêm tốn nhất cũng bị chúng gán cho cái tên Bôn-sê-vích.
Anh học trò trung học Võ Nguyên Giáp đặc biệt say mê các môn lịch sử, địa lý và vật lý. Anh chỉ rời
sách vở khi bận đến dự những cuộc thảo luận sôi nổi về các đề tài liên quan đến lịch sử nước nhà. Khi
14, 15 tuổi đời anh đã có những bước ngoặt có tính quyết định cả cuộc đời anh sau này.
Năm 1924, Toàn quyền Đông Dương Merlin tích cực phá hủy những gì mà những người tiền nhiệm của
ông là Albert Sarraut và Maurice Long đã bước đầu xây dựng cho cái gọi là tự do, bác ái ở Đông
Dương. Merlin chủ trương thanh niên Đông Dương chỉ nên học đến bậc trung học rồi đi làm, không
nên học lên đại học, nhất là sang Pháp du học vì ông ta cho rằng họ sang chính quốc sẽ bị ảnh hưởng
chủ nghĩa nhân quyền tự do của nước Pháp, sẽ trở thành những phần tử chống Pháp. Tuy nhiên, vào
năm 1925, khoảng 400 thanh niên Việt đi lén trên các tàu biển đã tới Marseille (Pháp).
Không ý thức được các mối hiểm nguy đó, Phủ Toàn quyền Đông Dương lợi dụng lúc vua Khải Định
băng hà đã buộc Hội đồng Phụ Chính thông qua trong phiên họp ngày 6 tháng 11 năm 1925 một đạo dụ
thu hẹp quyền hành của nhà vua nay chỉ giới hạn trong những chức trách thuần túy lễ nghi, ban sắc cho
các thần thành hoàng làng. Ngay cả việc tuyển dụng và bổ nhiệm quan chức giúp việc cho nhà vua
cũng thuộc quyền của Khâm sứ Pháp. Chính quyền thuộc địa đã nhanh chóng cắt gọn cái cành cây
mỏng manh, vốn vẫn là chỗ dựa để cai trị dân bản xứ, như vậy sự sụp đổ của chế độ thực dân chẳng
còn bao xa.
Trong những điều kiện ấy, có gì đáng ngạc nhiên khi người ta ngày càng hướng về “những người ở
Pháp về” như Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, những nhà luận chiến nảy lửa ở Sài Gòn bắt đầu
truyền bá những tư tưởng lật đổ do những cây bút già dặn viết trên các tờ báo bằng tiếng Pháp. Năm
1925, một nhà văn có tên là Malraux đã phản ánh tình trạng này trên tạp chí Indochine (Đông Dương):
“Một tin đồn lan truyền khắp nơi trong xứ An Nam về mối lo ngại rằng mọi sự căm giận, oán thù tản
mát lâu nay đã được tập hợp lại để có thể trở thành một sự bùng nổ, nếu các ngài không đề phòng,
khác nào cánh đồng vào vụ gặt.”
Thực vậy, một hành động mạnh mẽ vừa xuất hiện lại. Ngày 24 tháng 6 năm 1924, vào 8 giờ 30 phút tối
tại tô giới Anh - Pháp ở Quảng Châu, người ta tổ chức ở khách sạn Victoria tiệc mừng Toàn quyền
Merlin vừa kết thúc chuyến đi thăm các nước Đông Á về thì một người Việt Nam trẻ tuổi liệng qua
cửa sổ phòng tiệc một trái lựu đạn được ngụy trang trong một chiếc máy ảnh. Lựu đạn nổ làm năm
người thiệt mạng, trong đó ba người chết ngay tại chỗ, nhưng Merlin thoát chết. Vụ mưu sát này đã gây
tiếng vang lớn trong toàn Đông Dương làm thức tỉnh “hồn nước”, nhất là trong đám thanh niên học
sinh. Tại Quảng Châu, nhà đương cục Trung Hoa Quốc dân Đảng đã dựng bia lưu danh Phạm Hồng
Thái, người chủ mưu trong vụ này, đối diện với đài tưởng niệm các anh hùng của cách mạng Trung
Hoa. Trong những năm tiếp theo, bia liệt sỹ Phạm Hồng Thái trở thành nơi hành hương chính trị của
những người Việt Nam lưu vong.
Một năm sau sự kiện chấn động này, một cuộc truy lùng của cảnh sát, về kỹ thuật thì khá thành công
nhưng về chính trị thì lại là một chủ trương rất dở, đã gây nên sự phản đối khắp...
đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân và tổ chức.
Trước hết chúng tôi xin chân thành cảm ơn dịch giả Nguyễn Văn Sự - người đã giúp chúng tôi liên hệ
để có được bản quyền tiếng Pháp của cuốn sách và đã chuyển ngữ cuốn sách sang tiếng Việt. Chúng tôi
xin gửi lời cảm ơn đặc biệt tới gia đình và Văn phòng Đại tướng Võ Nguyên Giáp: ông Võ Điện Biên,
ông Võ Hồng Nam, Đại tá Trịnh Nguyên Huân đã giúp hiệu đính nội dung cuốn sách. Chúng tôi xin
được gửi lời cảm ơn tới hai nhà sử học: ông Alain Ruscio (Pháp) và ông Dương Trung Quốc đã viết
lời giới thiệu cho cuốn sách trong lần xuất bản tiếng Việt đầu tiên.
Chúng tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý độc giả để cuốn sách được hoàn chỉnh hơn
trong những lần in sau.
Lời giới thiệu
Đến nay, đã có nhiều cuốn sách của người nước ngoài viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một trong
những nhân vật nổi bật hàng đầu của lịch sử hiện đại Việt Nam mà tên tuổi gắn liền với cuộc cách
mạng giành độc lập dân tộc, hai cuộc kháng chiến chống lại hai đế quốc lớn bảo vệ nền độc lập dân
tộc và thống nhất quốc gia cũng như các cuộc chiến tranh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.
Đó cũng là tên tuổi gắn liền với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.
Nhưng tác giả của cuốn sách này lại là một người đặc biệt.
Georges Boudarel là một người đặc biệt, ông là một người Pháp nhưng lại đứng trong hàng ngũ của
những người chiến đấu chống lại nước Pháp thực dân, cụ thể hơn là đứng trong quân ngũ của đạo quân
do Tướng Giáp làm Tổng tư lệnh. Ông đến Việt Nam với tư cách là một cử nhân triết học để dạy môn
lịch sử trong một trường trung học ở Sài Gòn. Có lẽ chính từ những tri thức lịch sử và triết lý mà nước
Pháp của ông đã đề xướng “Tự do - Bình đẳng - Bác ái”, ông đã lựa chọn như nhiều người Pháp tiến
bộ sinh sống ở Việt Nam mong muốn gìn giữ sự hòa hiếu giữa hai quốc gia sau khi nước Việt Nam đã
tuyên bố độc lập và thoát khỏi chế độ thuộc địa Pháp giống như nước Pháp của họ thoát khỏi ách
chiếm đóng của chủ nghĩa phát-xít Đức.
Vì thế, khi cuộc chiến tranh Việt - Pháp bùng nổ (tháng 12 năm 1946), G. Boudarel, một thành viên đã
tham gia nhóm Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác, đã lựa chọn con đường vào chiến khu của những người
Việt Nam kháng chiến để chống lại những tàn dư của chủ nghĩa thực dân. Ông tham gia cuộc kháng
chiến không bằng vũ khí sát thương mà bằng sự thức tỉnh đạo quân viễn chinh hãy chấm dứt cuộc chiến
tranh phi nghĩa mà họ đang tham dự. Ông tham gia vào công tác binh vận bằng ngòi bút và những kiến
thức về triết học và lịch sử của mình.
Sau khi thực dân Pháp đã thảm bại ở Điện Biên Phủ, phải chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược cũng là
rút lui khỏi vũ đài lịch sử ở Việt Nam, G. Boudarel vẫn ở lại Việt Nam làm việc trong lĩnh vực văn
hóa đối ngoại tại Đài Phát thành rồi Nhà xuất bản Ngoại văn và trực tiếp cộng tác với các nhà nghiên
cứu Việt Nam làm tập san Etudes Vietnamiennes.
Nếu như G. Boudarel đã có nhiều đóng góp tích cực giúp Việt Nam đánh thắng chủ nghĩa thực dân thì
ông lại không thành đạt khi ở lại Việt Nam tham gia vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì thế,
cũng đến lúc ông phải chia tay với Việt Nam, nơi ông đã dành trọn tuổi thành xuân cho một cuộc đấu
tranh chính nghĩa không chỉ cho nhân dân Việt Nam mà cho chính cả nước Pháp Tổ quốc của ông.
Tuy rời xa mảnh đất Việt Nam, nhưng G. Boudarel vẫn dành tất cả sự nhiệt tâm cho việc nghiên cứu và
ủng hộ Việt Nam. Con người ấy vẫn giữ được phẩm chất một nhà giáo, được các đồng nghiệp Việt
Nam yêu quý biến tấu tên gọi tiếng Pháp thành tiếng Việt là “Bụt” (Boudha = Phật). Rồi cũng vì toàn
tâm gắn bó với Việt Nam mà ông đã từng bị một số phần tử cực đoan tạo nên một vụ án bôi nhọ danh
dự và vu khống rằng ông đã phản bội nước Pháp khi cộng tác với Việt Minh. Chính những người Pháp
chân chính đã cùng ông đấu tranh vượt qua những thử thách ấy và Boudarel vẫn trọn vẹn trung thành
với tình yêu Việt Nam và công lý của mình.
Tình yêu ấy được thể hiện bằng những việc làm không biết mệt mỏi thể hiện trong những bài khảo cứu
hay những cuốn sách viết về Việt Nam của ông mà cuốn Giáp các bạn đang có trên tay bản dịch tiếng
Việt là một thành tựu. Tên cuốn sách là một cách gọi thân mật nhưng vẫn giữ được sự trân trọng của
một người nước ngoài song lại không xa lạ đối với “người anh Cả” của Quân đội nhân dân Việt Nam
mà Boudarel đã từng tham gia.
Đó không chỉ là một cuốn tiểu sử, đó là một pho sử mà tên tuổi “Giáp” đã gắn bó, cống hiến và để lại
những dấu ấn rất đậm nét xuyên suốt toàn bộ lịch sử hiện đại Việt Nam, lịch sử Giải phóng dân tộc
chống chủ nghĩa thực dân trong cương vị của vị Tổng tư lệnh - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng gắn với
huyền thoại từ Điện Biên Phủ (1954) cho đến “Điện Biên Phủ trên không” (1972) rồi Chiến dịch mang
tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (1975).
Cần nói thêm rằng, trước cuốn này, ngay từ năm 1970, giữa lúc cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước
của nhân dân Việt Nam còn đang diễn ra ác liệt, tác phẩm Giương cao ngọn cờ chiến tranh nhân dân và
đường lối quân sự của Đảng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được Nhà xuất bản Preagers của Mỹ
xuất bản và G. Boudarel đã viết lời giới thiệu với nhan đề “Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai Quan sát và dự báo”.
Bằng niềm tin từ những trải nghiệm của cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, tức là cuộc Kháng
chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp mà G. Boudarel từng tham gia, ông đã phân tích và
khẳng định cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam sẽ đi đến kết cục như trước
là Mỹ không thể nào thắng được. Ông cũng tập trung phân tích vai trò và đường lối quân sự của Đại
tướng Võ Nguyên Giáp vẫn ở cương vị Tổng tư lệnh lực lượng vũ trang như cuộc chiến tranh lần trước
sẽ làm cho các tướng lĩnh Mỹ phải thất bại bởi sức mạnh của một dân tộc có truyền thống chống ngoại
xâm lại có một vị tướng tài và từng trải.
Trong quan niệm của G. Boudarel, Võ Nguyên Giáp là sự kế thừa có chọn lựa những tư tưởng quân sự
của các nhà cách mạng hiện đại như Lênin và Mao Trạch Đông cũng như các nhà chiến lược quân sự
kinh điển như Clausewitz và Tôn Tử mặc dù khi trai trẻ, nhà giáo dạy lịch sử trẻ tuổi lại rất say mê
Napoléon. Nhưng trên hết, Võ Nguyên Giáp là sự vận dụng trung thành với tư tưởng của Hồ Chí Minh
cũng là của Đảng về Chiến tranh nhân dân Việt Nam mà cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất là
một thành công. Vì thế, sự quan sát, phân tích và dự báo của G. Boudarel trở nên sắc sảo và thuyết
phục...
Do đó, khi G. Boudarel viết cuốn GIÁP như tiểu sử của một nhà quân sự lớn, bên cạnh những phân
tích khoa học, tác giả còn gửi gắm vào đó nhiều tâm đắc đối với lịch sử Việt Nam hiện đại mà Đại
tướng Võ Nguyên Giáp là một trong những hiện thân tiêu biểu, cái lịch sử mà chính tác giả cuốn sách
từng là “người trong cuộc”.
Tôi đã có cơ hội gặp Georges Boudarel trong những năm tháng cuối cùng khi ông sống độc thân trong
một ngôi nhà nhỏ ở Paris khiêm nhường nhưng chất chứa đầy sách và những tư liệu quý giá về lịch sử
và văn hóaViệt Nam. Tôi và các bạn đồng nghiệp Việt Nam đã từng lên tiếng động viên, ủng hộ khi
ông bị những kẻ cực đoan bôi nhọ. Vì thế, một thập niên sau ngày tác giả qua đời (2003), được giới
thiệu cuốn sách viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị Chủ tịch Danh dự của Hội Sử học Việt Nam
của người đồng nghiệp đáng kính, Giáo sư sử học Georges Boudarel, đối với tôi là một vinh dự.
Xin trân trọng giới thiệu với quý bạn đọc!
Nhà sử học Dương Trung Quốc
Hà Nội, tháng 11 năm 2012
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
GIÁP của Georges Boudarel: Một cuốn sách
nên đọc
Năm 1975, chiến tranh kết thúc ở Việt Nam. Đó là cuộc chiến tranh dài nhất, làm thiệt mạng nhiều
người nhất trong thế kỷ XX, được biết đến trên mọi châu lục, bên cạnh những cuộc chiến tranh khác.
Chủ nghĩa thực dân Pháp, rồi chủ nghĩa đế quốc Mỹ lần lượt mưu toan ngăn chặn làn sóng cách mạng
Việt Nam nhưng không thành công. Về phía Pháp, 9 tướng lĩnh cao cấp, trong đó có những vị có nhiều
kinh nghiệm nhất (từ tướng Leclerc đến tướng Salan, không kể trước đó có d'Argenlieu, De Lattre...)
lần lượt nắm quyền chỉ huy đội quân viễn chinh Pháp. Trong giai đoạn chiến tranh Mỹ xâm lược Việt
Nam, 4 tướng lĩnh, cũng là những người dày dạn kinh nghiệm đã lần lượt thay nhau, trong đó có tướng
Westmoreland và Abrams. Tất cả đều xuất thân từ những trường quân sự nổi tiếng nhất phương Tây,
như Saint Cyr, West Point...
Đối mặt với họ, một người Việt Nam chưa từng ngồi trên ghế các trường quân sự lớn, nhưng đã tự học
chiến lược, chiến thuật trên thực địa, đó là VÕ NGUYÊN GIÁP. Chính ông đã kể cho tôi trong những
điều kiện nào ông đã tiếp cận nghệ thuật chiến tranh: Chúng tôi không qua một trường lớp quân sự nào.
Khi còn ở Hà Nội năm 1940, các đồng chí của chúng tôi truyền đạt nghị quyết của Đảng về chuẩn bị
đấu tranh vũ trang, tôi vào Thư viện Quốc gia tìm trong cuốn Đại từ điển Larousse những mục từ về kỹ
thuật quân sự. Tôi nhớ đã đọc mục từ “lựu đạn”. Tôi cố gắng tìm hiểu nhưng khó quá, “lựu đạn tấn
công”, “lựu đạn phòng ngự”, “hạt nổ”. Lúc đó tôi không hiểu thế nào là “bộ phận nổ”[1].
[1] Alain Ruscio, Vo Nguyên Giap, une vie, Ed Les Indes Suivantes, 2010. Xem thêm Võ Nguyên
Giáp, Một cuộc đời, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 50-51.
Một mình chống lại khoảng 15 sĩ quan cao cấp được đào tạo bài bản tại các trường quân sự phương
Tây! Cuộc đấu tranh xem ra không cân sức...
Đúng vậy, nhưng Võ Nguyên Giáp đâu phải chỉ có một mình! Ông có nhân dân Việt Nam cùng kề vai
sát cánh. Người Việt Nam giàu truyền thống đấu tranh chống xâm lược nước ngoài, nhiều thế kỷ chống
kẻ thù phương Bắc, chống lại người Pháp trong thời kỳ chinh phục thuộc địa, sau đó từ năm 1945, tiến
hành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, hiện thân trong hình ảnh cao cả của Hồ Chí Minh. Với Bác
Hồ, với Giáp và các bạn chiến đấu của mình, cụm từ “chiến tranh nhân dân” không ngừng trở thành
khẩu hiệu động viên toàn thể dân tộc, được đem ra thực hiện hàng ngày. Ít nhà quan sát người Pháp
trước năm 1946, và còn ít hơn nữa các nhà quan sát người Mỹ trước những năm 1960 có thể hiểu
được điều này.
Làm sao “một dân tộc nhỏ bé” của những người nông dân mà họ gọi một cách coi thường là “những
người nhà quê” lại có thể đương đầu với vũ khí hiện đại? Làm sao những người du kích quần áo rách
rưới đi dép cao su lại có thể đua tranh với các “ông lớn” da trắng mặc quân phục dã chiến, đi ủng cao
và được trang bị đến tận răng?
Một người bạn chiến đấu khác của Bác Hồ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, cách đây không lâu đã kể cho
tôi một giai thoại sau. Năm 1946 khi ông dẫn đầu Phái đoàn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
đến dự Hội nghị Fontainebleau, Max André, người dẫn đầu Phái đoàn Pháp, đã phát biểu với giọng
trịch thượng: “Các ông hãy tỏ ra biết điều, hãy nhường Nam Kỳ cho chúng tôi. Các ông không muốn
chiến tranh đấy chứ? Nếu chẳng may chiến tranh xảy ra, quân lính của các ông chỉ cầm cự được dăm
tháng là cùng!”. Tôi còn nhớ khi Thủ tướng Phạm Văn Đồng kể lại cho tôi câu chuyện đó, ông phá lên
cười, một cái cười rất tự nhiên, cứ như ai nói đến chuyện đó cũng phải cười như thế!
Thế mà thực dân Pháp đã bại trận. Nước Mỹ được trang bị vũ khí tối tân nhất thế giới cũng bại trận.
Đương nhiên nhân dân Việt Nam phải trả giá bằng bao nỗi đau thương, mất mát! Nhưng thực tế còn
kia: chiến thắng năm 1975 đang và sẽ còn là một thời điểm quan trọng nhất của thế kỷ XX.
Cuốn sách GIÁP bằng tiếng Pháp của Boudarel ra mắt độc giả từ năm 1977, nghĩa là hai năm sau
chiến thắng vĩ đại mùa Xuân 1975 của Việt Nam. Có lẽ đây là điều trách cứ duy nhất chúng tôi có thể
dành cho nhà sử học này. Bởi với kinh nghiệm, hiểu biết sâu sắc về con người, đất nước Việt Nam, “tổ
quốc thứ hai” của ông, thông thạo tiếng Việt, đáng lẽ Boudarel phải viết sớm hơn thế, ngay từ trong
chiến tranh mới phải. Bởi nếu thế, có lẽ ông sẽ giúp chúng ta hiểu được nguyên nhân nào đã khiến
nhân dân Việt Nam giành được thắng lợi.
Thực vậy, cuốn sách này có lợi thế lớn hơn nhiều so các cuốn sách khác đã viết về GIÁP sau đó:
Không còn bám vào câu hỏi “Giáp và nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi như thế nào?”,
nhưng Boudarel đã giải thích “Tại sao” họ lại chiến thắng. Và muốn giải đáp được câu hỏi trên, phải
tìm hiểu lịch sử đất nước này từ rất lâu trước thế kỷ XX, điều đó Boudarel đã nắm được và chuyển tải
sang cuốn sách của ông.
Tại Pháp, cuốn sách này đã không được hoan nghênh như đáng lẽ phải có. Tình hình biến chuyển nhanh
và năm 1977, âm vang của chiến thắng 1975 của Việt Nam đã bị những sự kiện quốc tế khác che phủ.
Báo chí không nói nhiều đến công trình nghiên cứu mang tính đổi mới này. Hơn nữa, từ năm 1978,
bằng chiến dịch xấu xa vu cáo Việt Nam: với những “thuyền nhân”, rồi những khó khăn của đất nước ở
biên giới Tây Nam (Khmers Đỏ đánh phá) và phía Bắc (Trung Quốc khiêu khích), phương Tây tưởng
đã đến lúc phục thù. Chiến dịch vu cáo này đạt tới đỉnh điểm khi Việt Nam giúp giải phóng
Campuchia, rồi tiếp đó là cuộc chiến tranh biên giới ở phía Bắc. Rất nhiều người Pháp chúng tôi
trước sau kiên trì ủng hộ Việt Nam: đó là những người cộng sản, những lực lượng tiến bộ, cả những
người Công giáo cánh tả, những hội viên Hội Hữu nghị Pháp-Việt. Georges Boudarel lúc đó tuy có cái
nhìn phê phán “tổ quốc thứ hai” của ông nhưng vẫn đứng bên cạnh chúng tôi.
Sau này người ta biết rằng bản thân Boudarel cũng là đối tượng của một chiến dịch khá mạnh gây thù
hằn của những kẻ thua trận trong lịch sử, “những người cũ ở Đông Dương” và một phần cánh hữu của
Pháp. Tôi thuộc về những người đã bênh vực Boudarel lúc đó. Tôi còn nhớ tôi đã gặp Boudarel trong
ngôi nhà ông nghỉ hưu vào những năm cuối đời. Lúc đó sức khỏe ông đã sa sút lắm nhưng vẫn minh
mẫn, luôn đọc rất nhiều, hay hỏi thăm tin tức về Việt Nam...
Giờ đây cuốn sách được dịch sang tiếng Việt, quả là một việc làm đáng hoan nghênh. Bạn đọc Việt
Nam ngày nay có thể tìm hiểu qua những trang sách hết sức phong phú nhưng cô đọng, cung cấp nhiều
thông tin quý giá và bổ ích về cuộc đời của một trong những nhân vật vĩ đại của thời đại này, Đại
tướng Tổng tư lệnh VÕ NGUYÊN GIÁP.
Đây đồng thời cũng là một sự trân trọng của Việt Nam ngày nay dành cho một trong những người bạn
trung thành sáng suốt nhưng có khi bị chỉ trích - Georges Boudarel.
Alain Ruscio, nhà sử học Pháp
Paris, tháng 11 năm 2012
VÕ NGUYÊN GIÁP
Một người tên là Văn
Ngày 24 tháng 12 năm 1944, chiều muộn. Một nhóm 32 người men theo con đường trong một góc
khuất vùng rừng núi tỉnh Cao Bằng, phía cực bắc của Việt Nam, ngay gần biên giới Việt - Trung. Đi
cuối nhóm đầu tiên là trưởng nhóm, một người tên là Văn. Hoạt động ở vùng này từ ba năm nay, chưa
bao giờ Văn có nhiều người dưới quyền đến thế, chưa bao giờ anh dám đi giữa ban ngày ban mặt với
một nhóm người trên đường như thế. Khi quay lại để nhìn cả đội, cảnh hàng người chạy dọc theo
những khúc quanh của con đường núi khiến anh ấm lòng. Đầu đội nón bọc vải, mình mặc quần áo
chàm, chân quấn xà cạp, có thể khiến anh vui vui khi thấy mình trông thật buồn cười. Cả đội ăn mặc
giống lính dõng.
Mục tiêu của họ là gì? Đó là Phai Khắt, một đồn nhỏ. Từ hơn một năm nay, đồn có khoảng 10 lính
dõng, do một viên thiếu tá người Pháp làm chỉ huy, có11 vài ngôi nhà tranh bên bờ suối, đối diện với
một nương lúa nằm sát trong núi. Đây là một bản Việt Minh “hoàn toàn”: toàn bộ người dân, kể cả
chức dịch đều “hoàn toàn” theo Việt Minh. Không có gì đáng lo. Người dân đã cung cấp mọi thông tin.
17 giờ ngày 25 tháng 12, đội chìa “Giấy đi tuần” cho tên lính gác rồi đi thẳng vào đồn, theo sau Thu
Sơn mặc bộ kaki đóng giả đội sếp.
- Chúng tao đang đi tuần, quan đồn có nhà không? Thu Sơn hỏi tên lính gác, giọng hách dịch rồi đàng
hoàng tiến vào đồn. Người của anh nhanh chóng tiếp cận nơi để súng, trong khi hai nhóm khác bao vây
nhà bọn lính ở. Lúc đó, lính địch đứa đang ăn cơm trong nhà, đứa thu dọn quần áo, đứa quét dọn, sửa
hàng rào. Thu Sơn hô lớn: “Rassemblement! Rassemblement général! Le chef de poste revient du
district!” (Tập hợp! Tập hợp! Đồn trưởng về!). Một lát sau, khi toàn bộ lính đã tập hợp trước mặt, Thu
Sơn đổi giọng:
- Chúng tôi là quân cách mạng, anh em đầu hàng sẽ không giết ai hết, giơ tay lên!
Bị bất ngờ, không kịp trở tay, toàn bộ lính địch buộc phải đầu hàng. Giữa lúc đó, người của tổ canh
gác cách đồn 3 kilômét phóng ngựa tới báo tin tên đồn trưởng đang đi ngựa trở về, theo sau hắn có 10
tên lính không mang súng. Đội quyết định bắt tên đồn trưởng. Những tên lính bị bắt được đưa ra phía
sau đồn, chiến lợi phẩm được thu dọn, rồi ai nấy vào vị trí. Văn, Thu Sơn và Hoàng Sâm nấp dưới
mái hiên. Văn nói nhỏ: “Khi nó vào, tôi sẽ hô “Giơ tay lên”, nếu nó giơ tay các đồng chí lập tức xông
ra bắt sống. Có lệnh mới được nổ súng”. Nhưng khi Văn vừa hô “Giơ tay lên” thì nhiều tiếng súng
vang lên, cả người và ngựa đều bị tiêu diệt. Do quá căm thù, không kìm được nên một số đồng chí đã
nổ súng ngay.
Việc thu dọn chiến trường được tổ chức ngay với sự giúp đỡ của nhân dân. Tất cả những gì có thể sử
dụng trong cuộc sống hàng ngày đều được để lại cho dân làng. Những vũ khí thu được được trang bị
ngay cho đội, súng kíp giao lại cho du kích địa phương. Số súng này đủ trang bị cho nửa trung đội,
nhưng thu được rất ít đạn.
Nửa đêm hôm ấy, đội dừng chân ở một bản cách đó 15 kilômét để kiểm điểm rút kinh nghiệm trận
đánh vừa qua. Tới 3 giờ sáng ngày 26 tháng 12, cả đội tiếp tục hành quân đến Nà Ngần, một ngôi nhà
được biến thành đồn lính, có 22 lính khố đỏ, do hai sĩ quan người Pháp chỉ huy, nằm cách đồn Phai
Khắt 25 kilômét. Đội hy vọng sẽ thu được đạn dược ở đây. Sáng sớm, đội dừng lại. Cả đội thay quần
áo, cải trang bằng những bộ quần áo lính dõng, lính tập mới thu được ở Phai Khắt, giả làm một toán
lính dõng, lính khố đỏ đang dẫn giải “ba cộng sản” bị trói. Kịch
bản có thay đổi. Khi đến cổng, Thu Sơn lại chìa giấy cho lính gác xem, trong khi một đồng chí khác đi
sau rút thuốc lá ra mời và châm lửa cho bọn gác. Tò mò, lính gác trên chòi canh liếc nhìn:
- Lại bắt được cộng sản người Mán à?
Trong khi cuộc chuyện trò diễn ra với nhóm thứ hai, thì Thu Sơn đi thẳng vào trong đồn. Lúc này đồn
do một tên đội người Việt, nổi tiếng phản động, chỉ huy thay cho hai sĩ quan lên tỉnh. Cũng như ở Phai
Khắt, bọn lính đang làm nhiều việc khác nhau, một số thu dọn chăn màn, một số đi rửa mặt. Tên đội
ngồi ở bàn làm việc; vũ khí vẫn còn trên giá để súng, trong đó bốn khẩu đã bị Việt Minh lấy ngay ở lối
vào. Thu Sơn chĩa khẩu tiểu liên vào tên đội. Bất ngờ tên đội định đặt tay vào khẩu súng của hắn đặt
trên bàn, nhưng trước khi hắn có thời gian làm việc đó thì đã bị hạ. Nhóm đang nói chuyện ở lối vào
vô hiệu lính gác, bọn lính trong đồn rất hoảng hốt. Mọi việc diễn ra rất nhanh. Ba tên lính liều chết
chống cự đều bị tiêu diệt. Ba du kích người Tày được cử đến giải thích. Tù binh rất ngạc nhiên khi
thấy các nữ chiến sĩ vai mang súng, lưng đeo đạn, nói năng lưu loát, giải thích cho họ hiểu chủ trương
chính sách của Việt Minh. Đa phần tù binh xin được trở về quê, họ được trả lại quân trang.
Hai mươi phút sau, đội lại ra đi sau một cuộc giải thích nhanh cho dân làng mà họ phải ngăn không
cho đi theo đội.
Đến tối, toàn đội vượt qua quốc lộ 3A (Cao Bằng - Nguyên Bình) và đi vào vùng rừng núi đá vôi Gia
Bằng. Cả ngày, anh em chỉ ăn một bữa cơm, nhưng vẫn cố gắng đi liên tục không nghỉ. Một đội viên đã
tổng kết thành một câu hài hước: “Quân cách mạng chúng tôi ăn thì mỗi ngày một bữa, đánh thì mỗi
ngày hai trận”. Đội đi cả đêm trong rừng, đến tận Lũng Dẻ, một bản của đồng bào Mông, giữa khu du
kích Thiện Thuật (tên của một chí sĩ kháng Pháp ở đồng bằng sông Hồng khi Pháp chiếm Bắc Kỳ trong
những năm 1880). Khu du kích nằm trong một lòng chảo khá rộng, bao quanh là những vách đá tai mèo
hiểm trở, một thành trì tự nhiên thực sự. Trong mười ngày tại Lũng Dẻ, cả đội nghỉ ngơi, chấn chỉnh,
củng cố lực lượng và huấn luyện thêm. Khi xuất phát, đội được phát triển thành đại đội. Một bộ
phận nhỏ do Hoàng Văn Thái chỉ huy, phụ trách công tác tham mưu - tình báo, đi xuống phía nam hoạt
động tuyên truyền, mở rộng cơ sở. Đại bộ phận, do Văn chỉ huy, đi lên phía bắc, hướng về đồn Đồng
Mu, phải đi qua Trung Quốc, gần Bảo Lạc, cách đường ở phía bắc Cao Bằng 100 kilômét, trong đó 60
kilômét là đường mòn hẹp và hiểm trở. Hoạt động của Việt Minh còn yếu trong vùng địa hình hiểm trở
lởm chởm đá tai mèo, rừng núi lô nhô, giống như một vịnh Hạ Long trên cạn với đỉnh núi Pia Oắc
cao 1931 mét ở phía nam. Không thể đi theo đường dễ, cũng không đi được vào ban ngày, cả đội đi
liên tục, theo nhiều điểm, có khi lại phải đi xuống thung lũng và im lặng vượt qua những điểm gác của
địch, trong tiếng trống của lính gác đêm. Đồn Đồng Mu được xây dựng rất kiên cố trên một ngọn đồi
cao vì phải thường xuyên đối phó với bọn phỉ từ phía Trung Quốc. Quân lính trong đồn có hơn 40 lính
khố đỏ, do ba tên sĩ quan Pháp chỉ huy. Đồn có nhiều lô cốt, tường dày có lỗ châu mai, giao thông hào
và dây thép gai bao bọc xung quanh. Không thể sử dụng cách cải trang đột nhập đồn, chỉ còn cách
vượt tường đột nhập và kêu gọi quân bên trong đầu hàng. Đội chia thành bốn tổ, xuất phát trong đêm,
leo lên đồi và vượt hàng rào dây thép gai. Đội đang đột nhập thì bị địch hỏi:
- Ai?
Tình huống này nằm ngoài dự kiến.
- Chúng tôi là Việt Minh đến lấy súng của Tây, không đánh các anh em.
Một quả lựu đạn và một loạt đạn nổ vang. Từ 23 giờ đến 2 giờ sáng, bên trong đồn, hai đội đã vào
được và bắn nhau với địch dữ dội. Việt Minh vừa bắn vừa hát để động viên khí thế chiến đấu và báo
hiệu cho các chiến sĩ liên lạc. Tuy nhiên, họ lại làm lộ vị trí chiến đấu, khiến quân địch tập trung hỏa
lực bắn tới. Đến rạng sáng, ban chỉ huy hạ lệnh rút khỏi đồn. Đội mất một tiểu đội trưởng, thu năm
súng trường mousqueton và một số đạn, bắt bốn tù binh. Các tù binh này khai đồn đã trong tình trạng
báo động.
Một cuộc hành quân mới lại bắt đầu, mọi người vừa đi vừa nghỉ dọc đường và ăn cơm nắm. Sau khi
nghỉ ngơi, đội cẩn thận xóa mọi dấu vết nhỏ nhất, từ những chiếc lá gói thức ăn đến hạt cơm rơi xuống
đất vì chúng có thể để lộ dấu vết. Rồi cả đội lại lên đường. Đến vùng an toàn hơn, các chiến sĩ tản ra
thành những đội nhỏ đi vào bản để tuyên truyền. Tại Nà Ngần, họ có được thành quả đầu tiên: thu 16
súng trường và nhiều tù binh. Nhưng bây giờ, việc cần ưu tiên là tuyên truyền. Hồ Chí Minh đã nhắc đi
nhắc lại điều này: “Chính trị trọng hơn quân sự, vũ trang tuyên truyền trọng hơn tác chiến”.
“Một chiến thắng chỉ được 100 người biết sẽ chỉ tác động đến 100 người; nhưng nếu ta cho 1000
người biết, thì cũng như ta đã mang về 10 chiến thắng khác hoặc một chiến thắng lớn hơn 10 lần”.
Người sau này viết lên những dòng này chính là Văn, mà Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân
của ông vừa có những trận tấn công đầu tiên. Sáu tháng sau, ông được cả thế giới biết đến với tên thật
Võ Nguyên Giáp.
Chàng sinh viên, thầy giáo dạy sử và người
chiến sĩ cách mạng
Sinh ở An Xá, tỉnh Quảng Bình vào năm 1910[1], Giáp lúc nhỏ sống ở một vùng đồng bằng nhỏ hẹp
ven biển miền Trung phía bắc vĩ tuyến 17. Nơi đây từ thế kỷ XI là bàn đạp của cuộc nam tiến không gì
ngăn nổi của dân tộc Việt Nam. Ông đã lớn lên ở một vùng đất hẹp vào bậc nhất của Việt Nam, có
những cánh đồng lúa nước kẹp giữa một bên là những cồn cát trắng xóa mênh mông chạy dọc bờ biển
và bên kia là những mỏm núi xanh trơ trụi trong dãy Hoành Sơn uốn lượn giữa những cánh rừng rậm,
nơi đây vào mùa hè những cơn gió tây khô rát gọi là gió Lào từ lục địa Nam Á nóng bỏng thổi ra biển.
[1] Theo xác nhận của gia đình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25/8/1911. (Ghi chú của Văn
phòng Đại tướng Võ Nguyên Giáp - VPĐT).
Cụ bà thân sinh, những hôm không bận việc đồng áng thì cặm cụi bên khung cửi. Còn cụ ông là một
nông dân có học thức tự cày cấy ruộng nhà, và truyền lại cho cậu bé Giáp chữ nghĩa, vốn tri thức và
tình yêu quê hương đất nước. Đối với những ai hiểu biết thì mỗi tấc đất ở đây đều mang một chứng
tích lịch sử. Phía bắc tỉnh là động Phong Nha sâu hút, thu hút nhiều khách hành hương đến cầu nguyện
trước một bàn thờ còn sót lại của người Chăm, bên cạnh những nhũ đá lung linh dưới ánh sáng khi mờ
khi tỏ từ cửa động rọi vào. Trên bờ biển, Đèo Ngang hùng vĩ nằm án ngữ biển, nơi đây Bà Huyện
Thanh Quan, nữ thi sĩ của thế kỷ XVIII từng ca ngợi vào một buổi chiều tà: “Nhớ nước đau lòng con
cuốc cuốc”. Cậu bé Giáp tuy ở tuổi ấu thơ cũng đã hiểu rằng nữ tác giả khi nói đến con cuốc cuốc là
nói đến non sông đất nước vì tiếng con chim cuốc theo âm Hán Việt đồng âm với tiếng quốc có nghĩa
là đất nước quê hương.
Cách làng An Xá một quãng ngắn, còn sót lại di tích của thành lũy do nhà quân sự kiêm thầy giáo dạy
chữ Nho, Đào Duy Từ, tác giả cuốn Hổ trướng khu cơ (Bí quyết phép dùng binh) - một cuốn sách giáo
khoa dạy nghệ thuật quân sự cho các tướng lĩnh thời bấy giờ - xây dựng vào cuối thế kỷ XVII được
người dân vùng này truyền tụng là lũy Thầy. 25 năm trước khi cậu bé Giáp ra đời, toàn bộ vùng đất
Quảng Bình này từng là địa bàn hoạt động của nghĩa quân Cần Vương, hưởng ứng lời kêu gọi chống
Pháp của vua Hàm Nghi. Ở phía bắc, trong tỉnh kế bên cũng có một văn thân là cụ Phan Đình Phùng đã
xây dựng căn cứ kháng chiến trên núi Vụ Quang trong mười năm và đến năm 1910, một toán nghĩa
quân còn về đồng bằng quyên góp lương thực và gây quỹ ủng hộ kháng chiến chống Tây. Nhưng sau
năm 1919, dường như quá khứ vẻ vang ấy đã vĩnh viễn hết thời, không có gì cưỡng lại được. Người ta
bước vào một thời đại mới, bút lông mềm mại đã nhường chỗ cho bút sắt vừa viết vừa phát ra tiếng
cót két của hãng Sergent-Major từ phương Tây đem tới.
Năm 1923, cậu bé Giáp tạm biệt cha mẹ già vào Huế, cố đô của triều đình nhà Nguyễn xưa, cách nhà
150 kilômét, để học ở trường Quốc học. Vào thời đó, các trường học từ bậc trung học trở lên đều đặt
ở các thành phố, thị xã và đô thị lớn, và được “chính trị hóa” một cách khác thường. Học sinh không
ồn ào, hiếu động mà rất chăm chỉ đèn sách. Ở lớp, các cô cậu im lặng, ngồi nghiêm chỉnh nghe lời thầy
giảng hay ghi ghi chép chép, chỉ còn nghe được tiếng ruồi bay qua bay lại. Một số cố học để sau này
ra làm quan. Nhiều người khác cốt sao sau này nên người, để “cứu nước, đánh giặc ngoại xâm”, “canh
tân đất nước”. Những ý nghĩ tốt đẹp này ám ảnh tâm trí những con người trẻ tuổi. Đi đâu cũng thấy
những nhóm nhỏ ra đời mà trong buổi lễ gia nhập, các cậu “thề đấu tranh, hy sinh đến cùng cho sự
nghiệp”.
Người ta xì xào, bàn tán về con người có sức hấp dẫn kỳ lạ mang tên Nguyễn Ái Quốc (sau này đổi tên
là Hồ Chí Minh), tác giả áng văn đả kích nổi tiếng có tựa đề: Bản án chế độ thực dân Pháp, cùng với
những người cùng chí hướng đang hoạt động tại nước Nga Xô viết. Người ta đưa cho Giáp một bản và
anh đã đọc say sưa. Báo chí thực dân đã dành toàn bộ phương tiện tuyên truyền tốt nhất để vu cáo
những người Bôn-sê-vích, thậm chí có những người có xu hướng ôn hòa, chỉ đưa ra những đề nghị cải
cách xã hội khiêm tốn nhất cũng bị chúng gán cho cái tên Bôn-sê-vích.
Anh học trò trung học Võ Nguyên Giáp đặc biệt say mê các môn lịch sử, địa lý và vật lý. Anh chỉ rời
sách vở khi bận đến dự những cuộc thảo luận sôi nổi về các đề tài liên quan đến lịch sử nước nhà. Khi
14, 15 tuổi đời anh đã có những bước ngoặt có tính quyết định cả cuộc đời anh sau này.
Năm 1924, Toàn quyền Đông Dương Merlin tích cực phá hủy những gì mà những người tiền nhiệm của
ông là Albert Sarraut và Maurice Long đã bước đầu xây dựng cho cái gọi là tự do, bác ái ở Đông
Dương. Merlin chủ trương thanh niên Đông Dương chỉ nên học đến bậc trung học rồi đi làm, không
nên học lên đại học, nhất là sang Pháp du học vì ông ta cho rằng họ sang chính quốc sẽ bị ảnh hưởng
chủ nghĩa nhân quyền tự do của nước Pháp, sẽ trở thành những phần tử chống Pháp. Tuy nhiên, vào
năm 1925, khoảng 400 thanh niên Việt đi lén trên các tàu biển đã tới Marseille (Pháp).
Không ý thức được các mối hiểm nguy đó, Phủ Toàn quyền Đông Dương lợi dụng lúc vua Khải Định
băng hà đã buộc Hội đồng Phụ Chính thông qua trong phiên họp ngày 6 tháng 11 năm 1925 một đạo dụ
thu hẹp quyền hành của nhà vua nay chỉ giới hạn trong những chức trách thuần túy lễ nghi, ban sắc cho
các thần thành hoàng làng. Ngay cả việc tuyển dụng và bổ nhiệm quan chức giúp việc cho nhà vua
cũng thuộc quyền của Khâm sứ Pháp. Chính quyền thuộc địa đã nhanh chóng cắt gọn cái cành cây
mỏng manh, vốn vẫn là chỗ dựa để cai trị dân bản xứ, như vậy sự sụp đổ của chế độ thực dân chẳng
còn bao xa.
Trong những điều kiện ấy, có gì đáng ngạc nhiên khi người ta ngày càng hướng về “những người ở
Pháp về” như Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, những nhà luận chiến nảy lửa ở Sài Gòn bắt đầu
truyền bá những tư tưởng lật đổ do những cây bút già dặn viết trên các tờ báo bằng tiếng Pháp. Năm
1925, một nhà văn có tên là Malraux đã phản ánh tình trạng này trên tạp chí Indochine (Đông Dương):
“Một tin đồn lan truyền khắp nơi trong xứ An Nam về mối lo ngại rằng mọi sự căm giận, oán thù tản
mát lâu nay đã được tập hợp lại để có thể trở thành một sự bùng nổ, nếu các ngài không đề phòng,
khác nào cánh đồng vào vụ gặt.”
Thực vậy, một hành động mạnh mẽ vừa xuất hiện lại. Ngày 24 tháng 6 năm 1924, vào 8 giờ 30 phút tối
tại tô giới Anh - Pháp ở Quảng Châu, người ta tổ chức ở khách sạn Victoria tiệc mừng Toàn quyền
Merlin vừa kết thúc chuyến đi thăm các nước Đông Á về thì một người Việt Nam trẻ tuổi liệng qua
cửa sổ phòng tiệc một trái lựu đạn được ngụy trang trong một chiếc máy ảnh. Lựu đạn nổ làm năm
người thiệt mạng, trong đó ba người chết ngay tại chỗ, nhưng Merlin thoát chết. Vụ mưu sát này đã gây
tiếng vang lớn trong toàn Đông Dương làm thức tỉnh “hồn nước”, nhất là trong đám thanh niên học
sinh. Tại Quảng Châu, nhà đương cục Trung Hoa Quốc dân Đảng đã dựng bia lưu danh Phạm Hồng
Thái, người chủ mưu trong vụ này, đối diện với đài tưởng niệm các anh hùng của cách mạng Trung
Hoa. Trong những năm tiếp theo, bia liệt sỹ Phạm Hồng Thái trở thành nơi hành hương chính trị của
những người Việt Nam lưu vong.
Một năm sau sự kiện chấn động này, một cuộc truy lùng của cảnh sát, về kỹ thuật thì khá thành công
nhưng về chính trị thì lại là một chủ trương rất dở, đã gây nên sự phản đối khắp...
 





