NHẠC TẾT 2026
CẢM NHẬN CỦA PHỤ HUYNH VỀ NGÀY TRẢI NGHIỆM
Toàn tập Trần Nhân Tông

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 21h:30' 19-05-2024
Dung lượng: 784.9 KB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 21h:30' 19-05-2024
Dung lượng: 784.9 KB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
Toàn Tập Trần Nhân Tông
Lê Mạnh Thát
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
Table of Contents
Lời Tựa
Chương I: Vấn đề sử liệu
Chương II: Tuổi trẻ vua Trần Nhân Tông
Chương III: Vua Trần Nhân Tông và cuộc chiến tranh vệ quốc năm 1285
Chương IV: Vua Trần Nhân Tông và cuộc chiến tranh vệ quốc năm 1288
Chương V: Vua Trần Nhân Tông và sự nghiệp xây dựng hòa bình thời hậu chiến
Chương VI: Thượng hoàng Trần Nhân Tông xuất gia
Chương VII: Một số vấn đề tư tưởng vua Trần Nhân Tông
Chương VIII: Vị trí văn học của vua Trần Nhân Tông
Chương IX: Vua Trần Nhân Tông với thiền phái Trúc Lâm
Lời dẫn
Thơ Trần Nhân Tông
Phú Trần Nhân Tông
Bài giảng Trần Nhân Tông
Ngữ lục
Văn xuôi Trần Nhân Tông
Văn thư ngoại giao
Lời Tựa
Vua Trần Nhân Tông là một vị anh hùng dân tộc, có những đóng góp to lớn, nhiều mặt cho đất
nước, cho lịch sử. Vua đã trực tiếp lãnh đạo quân và dân nước ta, tập hợp được những nhà
quân sự tài giỏi, huy động được tiềm lực của toàn dân, đánh thắng đội quân hung hãn, thiện
chiến nhất thời bấy giờ, làm nên những chiến công oanh liệt Hàm Tử, Chương Dương, Bạch
Đằng, Tây Kết lẫy lừng, đưa dân tộc ta lên đỉnh cao của thời đại. Không những thế, vua đã mở
rộng biên cương của tổ quốc, đặt nền móng vững chắc cho sự nghiệp nam tiến hoành tráng của
dân tộc, mà con cháu hôm nay và mai sau mãi mãi ghi nhớ và biết ơn.
Thêm vào đó, nền văn hóa Việt Nam thời đại vua Trần Nhân Tông đã xuất hiện hai sự kiện có ý
nghĩa hết sức trọng đại. Thứ nhất là việc dùng tiếng Việt như một ngôn ngữ hành chánh chính
thức của triều đình cùng với tiếng Hán.
Đây là lần đầu tiên việc sử dụng tiếng Việt đã được ghi lại bằng minh văn. Các triều đại trước
chắc chắn đã ít nhiều dùng tiếng Việt, nhưng cho đến nay ta không có bất cứ một xác minh nào.
Chính dưới thời vua Nhân Tông, mà một sự kiện như thế đã chính thức được chép lại. Phải nói
rằng, tiếng Việt sử dụng chính thức này đã tạo điều kiện cho sự ra đời một loạt các tác phẩm
văn học tiếng Việt từ Tiều Ẩn quốc ngữ thi tập của Chu Văn An, cho đến bản dịch Kinh Thi của
Hồ Quí Ly, cùng các bài thơ của Nguyễn Biểu, Trần Trùng Quang, nhà sư chùa An Quốc. Đặc
biệt là Quốc Âm thi tập của Nguyễn Trãi và bản dịch kinh Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân
trọng và Phật thuyết báo phụ mẫu ân trọng tiếng Việt xưa nhất hiện còn, có thể là của thiền sư
Viên Thái.
Sự kiện thứ hai là việc vua Trần Nhân Tông đã thành lập dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử thuần
túy Việt Nam với chủ trương Cư trần lạc đạo. Triều vua Trần Nhân Tông có những biến động
chính trị, quân sự to lớn qua việc hai lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông và việc sát
nhập hai châu Ô, Lý vào bản đồ Đại Việt, cùng những biêện động học thuật với việc sử dụng
tiếng Việt như một ngôn ngữ chính thức cùng với tiếng Hán, thì tất nhiên phải có những biến
động về tư tưởng. Giữa những biến động này chứng tỏ có quan hệ biện chứng. Không thể có
biến động này xảy ra mà không kéo theo một biến động khác xuất hiện.
Chính từ những biến động đó, mà dòng thiền Trúc Lâm ra đời, không những làm nền tảng cho
sự phát triển Phật giáo Việt Nam mấy trăm năm tiếp theo, mà còn tạo tiền đề cho sự nghiệp
nam tiến của dân tộc trong mấy trăm năm ấy.
Không phải ngẫu nhiên vị sáng tổ của phái Thảo Đường là vua Lý Thánh Tông mở đầu cho sự
nghiệp Nam tiến vào năm 1069. Rồi vua Trần Nhân Tông đặt nền móng cho sự nghiệp đó với
việc thành lập hai châu Thuận và Hóa. Và gần đúng 400 năm sau, Bồ tát giới Hưng Long
Nguyễn Phúc Chu đã chính thức sai tướng Nguyễn Hữu Cảnh đi thiết lập thành phố Sài Gòn và
gầy dựng Nam Bộ thành một bộ phận không thể phân ly của tổ quốc Việt Nam. Phải có một lý
luận đằng sau những người con ưu tú này của dân tộc. Vì Cư trần lạc đạo phú của vua Trần
Nhân Tông được bảo tồn qua các truyền bản lưu giữ trong các tự viện của dòng thiền Trúc
Lâm, lần đầu tiên ta có một văn bản để nghiên cứu cơ sở lý luận vừa nói.
Sự nghiệp văn trị và võ công của vua Trần Nhân Tông vĩ đại như thế. Trải qua 700 năm lịch sử,
sự nghiệp này đã được nhiều lần đánh giá và ca ngợi, từ những người đồng thời như Trương
Hán Siêu, Trần Minh Tông, Phạm Sư Mạnh cho đến những người về sau như Nguyễn Trãi, Ngô
Sỹ Liên, Lê Quí Đôn, Ngô Thì Nhiệm v.v Và sự nghiệp văn học và tác phẩm của vua Trần Nhân
Tông cũng đã từng bước được sưu tập như Việt âm thi tập, Toàn Việt thi lục, Tam tổ thực lục,...
Nhưng cho đến nay, trong công tác sưu tập này vẫn còn có những thiếu sót. Chẳng hạn toàn bộ
các văn thư ngoại giao do vua Trần Nhân Tông viết cho vua quan nhà Nguyên vẫn chưa được
thu thập và công bố đầy đủ, tối thiểu là trong giới hạn của những nguồn tư liệu hiện tại bảo lưu
và cho phép.
Chúng tôi, do thế, đề nghị giới thiệu lại sự nghiệp võ công và văn trị cùng những tác phẩm văn
học, mà vua Trần Nhân Tông đã để lại cho chúng ta đến ngày hôm nay. Toàn tập Trần Nhân
Tông ra đời là một thể hiện nỗ lực ấy.
Toàn tập này được chia làm hai phần. Phần đầu giới thiệu tổng quát sự nghiệp võ công và văn
trị qua 9 chương nghiên cứu từng vấn đề, từ tuổi trẻ cho đến vai trò nhà vua trong hai cuộc
chiến tranh 1285 và 1288, cũng như trong việc mở mang bờ cõi, sử dụng tiếng Việt và thành
lập dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Phần hai công bố các tác phẩm văn học từ thơ phú, văn xuôi,
bài giảng, ngữ lục cho đến các văn thư ngoại giao, nhằm cung cấp tư liệu cho những ai quan
tâm nghiên cứu nhiều mặt về lịch sử Việt Nam nói chung và bản thân vua Trần Nhân Tông nói
riêng.
Cuối cùng, để cung cấp tài liệu tham khảo và kiểm soát, chúng tôi cho in lại toàn bộ các văn bản
chữ Hán và Quốc âm, mà chúng tôi sử dụng để phiên âm hay dịch nghĩa. Trong trường hợp có
nhiều bản khác nhau, chúng tôi chọn những bản xưa nhất hiện có làm bản đáy và cho in, còn
các bản khác thì được dùng làm khảo dị.
Toàn tập này về cơ bản hoàn thành vào năm 1977, nhưng đến nay mới được công bố trọn vẹn.
Tuy vậy, chỉ có một điều đáng tiếc là trong số các tác phẩm của vua Trần Nhân Tông do chúng
tôi sưu tầm được trong những năm 1974-1975 và trước đó, thì trong lần công bố này thiếu
mất bản dịch chú Lăng Nghiêm do Bồ Đề Thất Lỡ (Bodhiri) truyền đạt, Bảo Sát bút thọ và vua
Trần Nhân Tông nhuận sắc. Đây có thể nói là một trong những bản dịch cuối cùng từ tiếng
Phạn ra tiếng Hán tại nước ta và của Viễn Đông và có sự tham gia của nhà vua.
Bản chúng tôi tìm thấy tại chùa Từ Quang tỉnh Phú Yên là một bản in thời Cảnh Hưng không
còn nguyên vẹn lắm.
Những trang đầu có lời tựa đã bị mất, chỉ còn tờ cuối. Còn năm đệ chú Lăng Nghiêm thì bốn đệ
đầu còn nguyên, đệ cuối cùng bị rách và chỉ còn đoạn phiến. Về phần Thập chú cũng bị mất.
Sau mỗi cụm từ Phạn in cỡ chữ lớn có hai hàng chữ Hán dịch nghĩa in cỡ chữ nhỏ. Rất tiếc bản
này đã bị thất lạc trong năm 1984. Chúng tôi hy vọng những ai đang giữ bản in ấy, vì lợi ích
chung của nền học thuật nước nhà, xin công bố, để làm tư liệu nghiên cứu cho việc tìm hiểu
không những chính các đóng góp của vua Trần Nhân Tông đối với dân tộc và Phật giáo, mà còn
lịch sử văn hóa và tư tưởng Việt Nam nói chung.
Vạn Hạnh
Tiết trùng dương năm Kỷ Mão
Lê Mạnh Thát
PHẦN I
NGHIÊN CỨU VỀ TRẦN NHÂN TÔNG
--o0o--
CHƯƠNG I
VẤN ĐỀ SỬ LIỆU
Vua Trần Nhân Tông đã được sử sách qua hàng trăm năm đánh giá là một hoàng đế anh minh,
một lãnh tụ thiên tài, một vị anh hùng dân tộc. Do thế, cuộc đời vua được ghi chép tương đối tỉ
mỉ, khi so với cuộc đời của một số danh nhân khác của dân tộc. Dẫu vậy, vẫn có những chi tiết
không rõ ràng, đặc biệt liên hệ với các tác phẩm của nhà vua. Cho nên, để dựng lại những nét
chính của cuộc đời vua Trần Nhân Tông, nhằm làm cơ sở cho việc nghiên cứu những đóng góp
to lớn, mà nhà vua đã cống hiến cho đất nước về các mặt võ công và văn trị, ta phải huy động
tới những nguồn tư liệu khác nhau, hiện được bảo lưu tại nước ta cũng như tại Trung Quốc.
Trước hết, về phía các nguồn tư liệu Việt Nam thì tư liệu cơ bản nhất, ta phải quan tâm, dĩ
nhiên là bộ ĐVSKTT, phần Bản kỷ của vua Trần Nhân Tông, do Ngô Sĩ Liên lấy lại từ Đại Việt sử
ký của Phan Phu Tiên. Đây là bộ sử đầu nguồn, mà các bộ sử sau như Việt sử tiêu án của Ngô
Thì Sỹ (1726-1780), và Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều
Nguyễn đã sử dụng để viết về vị vua anh minh này. Dù có tham khảo thêm các sử liệu khác, chủ
yếu xuất phát từ Trung Quốc, chúng cũng không có đóng góp gì mới. Thậm chí có điểm còn sai
lạc thêm.
Vì vậy, khi nghiên cứu vua Trần Nhân Tông, ĐVSKTT vẫn là nguồn tư liệu cấp một.
Tuy nhiên, có những khía cạnh và sự việc của cuộc đời vua Trần Nhân Tông, mà ĐVSKTT đã
không ghi lại hoặc ghi lại một cách sơ sài thiếu sót. Ví dụ những ngày cuối đời của nhà vua,
ĐVSKTT chép không rõ ràng lắm, khi so với những gì do Thánh đăng ngữ lục chép lại. Do vậy,
ngoài ĐVSKTT, chúng ta may mắn còn được một số các tài liệu đời Trần hoặc do người viết về
sau, mà chúng ta phải tham khảo. Cụ thể là Thánh đăng ngữ lục, Thiền tông bản hạnh, Thượng
sĩ ngữ lục, Việt điện u linh tập, Nam ông mộng lục và Việt âm thi tập.
Thánh đăng ngữ lục là một tác phẩm ghi chép lại các thiền ngữ và thơ văn của các vị vua đồng
thời là thiền sư của đời Trần, tức các vua Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông và
Minh Tông. Có thể nói đây là bộ sử Phật giáo Việt Nam từ năm 1226 khi vua Trần Thái Tông
lên ngôi cho đến năm 1357 lúc vua Trần Minh Tông mất. Người viết bộ Ngữ lục này, ngày nay
không thấy ghi chép. Tuy nhiên, căn cứ vào nội dung tác phẩm, ta biết tác giả phải là một người
rất gần gũi với vua Trần Minh Tông, và khi viết, phải được sự đồng ý của vị vua kế nghiệp là
Trần Dụ Tông và triều đình.
Lý do nằm ở chỗ, thứ nhất, nếu không gần gũi với các vị vua Trần, đặc biệt là vua Trần Minh
Tông, thì người viết không có được những tư liệu đầu tay để viết nên bộ Ngữ lục ấy, như ta có
hôm nay. Thứ hai, nếu không được phép của vua và triều đình, bộ Ngữ lục ấy sẽ không bao giờ
được viết, và nếu có viết lén thì không bao giờ được công bố, vì nội dung nó có nhiều điều,
thậm chí nhiều văn kiện, liên hệ với các vua. Từ đó, trong số những tác gia Việt Nam được biết
tên sống sau năm 1357 và có những điều kiện như vừa nói, ta thấy có thiền sư Kim Sơn, người
có quan hệ chặt chẽ với vua Minh Tông và được chứng kiến những giây phút cuối đời của vị
vua này. Nói cách khác, ngoài khả năng là tác giả của Thiền uyển tập anh và Cổ châu Pháp vân
Phật bản hạnh ngữ lục, thiền sư Kim Sơn cũng có thể là người biên soạn Thánh đăng ngữ lục.
Thực tế, Thánh đăng ngữ lục được viết theo phương pháp thực lục, nghĩa là phương pháp dùng
để ghi chép sự việc hàng ngày, chủ yếu của các vị vua, mà sử gia Trung Quốc thường dùng. Cho
nên, đếữn thế kỷ thứ 18, nhằm dựng lại thiền phả của dòng thiền Trúc Lâm, thiền sư Tính
Quảng và Ngô Thời Nhiệm (1746 - 1803) đã trích phần Trần Nhân Tông của Thánh đăng ngữ
lục, ghép với bản Niên phổ của Pháp Loa khắc trên bia tại chùa Thanh Mai và tiểu sử của
Huyền Quang chép trong Tổ gia thực lục, để soạn nên tác phẩm Tam tổ thực lục. Điều đáng chú
ý là dù viết theo phương pháp thực lục, Thánh đăng ngữ lục chỉ cơ bản ghi lại các sự việc liên
quan tới hoạt động Phật giáo của các vị vua thiền sư, mà tuyệt đối không có bất cứ ghi chép
nào quan hệ tới hoạt động chính trị và quân sự của họ. Dẫu thế, Thánh đăng ngữ lục vẫn là một
tư liệu đáng quý, đặc biệt khi ta nghiên cứu các hoạt động Phật giáo của vua Trần Nhân Tông.
Hơn thế nữa, Thánh đăng ngữ lục đã là nguồn tài liệu để cho thiền sư Chân Nguyên (16471726) sử dụng và viết nên tác phẩm Thiền tông bản hạnh. Điểm đặc biệt của bản Thiền tông
bản hạnh này là khi in vào năm 1745, người đứng in đã cho in kèm vào 3 tác phẩm tiếng Việt
và Ngộ đạo nhân duyên của chính Chân Nguyên. Trong 3 tác phẩm tiếng Việt ấy, thì 2 là của
vua Trần Nhân Tông. Đó là Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca. Hai bài phú
này, dù đến năm 1745 mới được khắc bản, nhưng chắc chắn đã tồn tại trong thế kỷ thứ 17, bởi
vì Chân Nguyên đã trích dẫn Cư trần lạc đạo phú trong tác phẩm Kiến tánh thành Phật do ông
viết vào khoảng những năm 1684.
Ngoài Thánh đăng ngữ lục, ta còn có Thượng sĩ ngữ lục của Tuệ Trung Trần Quốc Tung, một
danh tướng giải phóng Thăng Long của cuộc chiến tranh 1285, đã được in dưới thời Trần Anh
Tông, vào khoảng những năm 1308-1311. Bộ Ngữ lục nay có chứa đựng tiểu sử của Tuệ Trung
Trần Quốc Tung (1230 -1290) do chính vua Trần Nhân Tông viết.
Bản tiểu sử ấy cho thấy một phần nào quá trình tiếp cận và học tập Phật giáo cùng văn tài của
nhà vua. Không những thế, nó còn ghi lại thêm cho ta một bài thơ, mà vua đã làm để ca ngợi
đại sĩ Tuệ Trung.
Bên cạnh đó, Việt điện u linh tập do Lý Tế Xuyên viết vào khoảng những năm 1329, tuy chủ yếu
ghi lại các anh hùng, liệt nữ và hạo khí anh linh của đất nước ta, cũng đã lần đầu tiên ghi chép
việc Trần Nhân Tông phong tặng gia hiệu cho các anh hùng, liệt nữ và hạo khí anh linh ấy vào
những năm Trùng Hưng thứ nhất (1285) và thứ tư (1288). Sự kiện này không thấy ĐVSKTT ghi
lại, nhưng về mặt văn hóa có một ý nghĩa hết sức thú vị. Đó là lần đầu tiên một thần điện Việt
Nam ra đời được nhà nước chính thức công khai thừa nhận. Việt điện u linh tập do thế có một
vị trí khá lôi cuốn trong việc soi sáng cho ta một số quan điểm của vua Trần Nhân Tông về quá
khứ thần thánh của dân tộc.
Nam ông mộng lục do Hồ Nguyên Trừng viết vào năm 1438 ở Trung Quốc. Trong 31 thiên
truyện do ông ghi lại, ta thấy Hồ Nguyên Trừng đã dành 4 thiên để ghi về vua Trần Nhân Tông.
Đó là các thiên về Trúc Lâm thị tịch (số 2), Tổ linh định mệnh (số 3), Cảm kích đồ hành (số 17)
và Thi ý thanh tân (số 19), nghĩa là chiếm 15% nội dung tác phẩm. Qua những ghi chép này, ta
không những được cung cấp thêm một số sự kiện và văn bản liên hệ tới vuaTrần Nhân Tông,
mà còn thấy được một phần nào những tác động và ảnh hưởng, mà vua Trần Nhân Tông đã có
đối với hậu thế.
Cuối cùng là Việt âm thi tập. Tác phẩm này là một thành quả của cuộc vận động chấn hưng văn
hoá dân tộc sau khi đánh đuổi quân Minh và phục hồi nền độc lập dân tộc của vị anh hùng Lê
Lợi. Nó được biên soạn trong giai đoạn Phan Phu Tiên đang còn làm ở Quốc sử quán vào năm
1334 và sau đó được Chu Xa hoàn thành vào năm Diên Ninh thứ sáu (1443). Về phần Trần
Nhân Tông, Phan Phu Tiên và Chu Xa đã thu thập được 26 bài thơ. Nguồn tư liệu sử dụng chắc
hẳn xuất phát từ những tác phẩm, mà Quốc sử quán đã tập hợp được và Phan Phu Tiên dùng để
viết nên bộ Đại Việt sử ký tục biên.
Điểm đáng chú ý là có bài thơ Hạnh Thiên Trường phủ, Việt âm thi tập bảo là của Trần Nhân
Tông và chép xuất xứ là từ Quốc sử. Quốc sử đây tức chắc chắn làĐại Việt sử ký tục biên của
chính Phan Phu Tiên. Thế nhưng bản ĐVSKTT ngày nay, xuất phát từ Nội các quan bản, lại chép
là của Trần Thánh Tông. Khảo Nam ông mộng lục, thì bài thơ đó cũng được ghi là của Trần
Thánh Tông. Vậy bản Việt âm thi tập in năm Bảo Thái thứ 7 (1727) có sự sai sót nào chăng?
Bản Việt âm thi tập này sau đó đã được dùng làm nguồn tư liệu cho các tác phẩm có ghi chép
về thơ văn của các vua quan đời Trần. Điển hình là bộ sách đồ sộ Toàn Việt thi lục của Lê Quý
Đôn và Trần triều thế phả hành trạng của một tác giả vô danh đời Nguyễn. Về phần Trần Nhân
Tông, Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn, sau khi loại bài thơ Hạnh Thiên Trường phủ, cũng chỉ
giới hạn trong số 26 bài thơ, mà Việt âm thi tập đã có, chứ không bổ sung thêm được bài nào.
Thánh đăng ngữ lục đươc thiền sư Chân Nguyên in vào năm 1705 và bản in do Tính Quảng đề
tựa vào năm 1750 đã không đến tay Lê Quý Đôn. Vì vậy, ông đã không thể khai thác số thơ văn
có ghi chép trong tác phẩm đó. Trần triều thế phả hành trạng càng giới hạn hơn, chỉ ghi lại
được hơn 18 bài.
Còn về nguồn tư liệu Trung Quốc, thì Nguyên sử, đặc biệt là phần viết về đất nước ta biết dưới
mục An Nam truyện, cung cấp một phần lớn các thông tin liên hệ đến hai cuộc chiến tranh
Mông - Việt vào những năm 1285 và 1288 và những quan hệ ngoại giao trước và sau hai cuộc
chiến tranh này. Để bổ sung, ta có An Nam chí lược của Lê Thực, Thiên nam hành ký của Từ
Minh Thiện và Trần Cương Trung thi tập của Trần Phu. Các tác giả của ba tác phẩm này đều là
những người cùng thời với vua Trần Nhân Tông, đã đứng về phía kẻ thù của dân tộc và tham
gia trực tiếp vào các hoạt động chính trị, quân sự liên hệ với nước ta dưới dạng này hay dạng
khác. Cho nên, dù nhìn những hoạt động ấy dưới lăng kính đối lập với quyền lợi của dân tộc, họ
vẫn cho ta một số thông tin chính trị và quân sự có quan hệ với vua Trần Nhân Tông.
Đặc biệt, họ đã giữ lại cho ta 22 văn kiện ngoại giao, mà vua Trần Nhân Tông đã gửi cho vua
quan nhà Nguyên. Đây là một mảng tư liệu, phía nước ta trong bảy trăm năm qua tuy có biết
đến, nhưng chưa bao giờ khai thác có hệ thống và công bố đầy đủ, nhằm làm cơ sở cho sự nhận
thức về cuộc đấu tranh ngoại giao đầy cam go trước và sau hai cuộc chiến tranh vừa nói. Chẳng
hạn, Lê Quí Đôn có nhắc tới Thiên nam hành ký và Sứ Giao tập của Trần Cương Trung thi tập,
song chỉ nhặt được một bài thơ của Trần Phu trong Kiến văn tiểu lục.
Ngoài ra, một bức họa do Trần Giám Như vẽ mang tên Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ vào năm
Chí Chính thứ 23 (1363) đã được Trần Quang Chỉ đề từ vào năm Vĩnh Lạc thứ 18 (1420) ghi lại
tóm tắt cuộc đời Trần Nhân Tông tương đối tổng quát, có một số chi tiết khá lôi cuốn.
Tuy nhiên, khi sử dụng các nguồn tư liệu Trung Quốc, ta gặp một số vấn đề cần phải giải quyết
dứt điểm. Thứ nhất, về vấn đề lịch pháp thì những người nghiên cứu cho đến ngày nay đã
thống nhất là hệ thống lịch pháp nước ta thời bấy giờ hoàn toàn phù hợp với hệ thống lịch
pháp của Trung Quốc đời Nguyên. Cho nên những năm tháng ghi ra các sử kiện giữa những sử
liệu Việt Nam và Trung Quốc không có sai lệch gì nhiều. Nếu về cùng một sự kiện mà có những
sai lệch thì, hoặc do những thông tin khác nhau, hoặc do những truyền bản ghi chép bị nhầm
lẫn. Trong Toàn tập này, chúng tôi chủ yếu sử dụng hệ thống ngày tháng của lịch pháp ta, và chỉ
đổi ra ngày tháng dương lịch ở những nơi cần thiết để tránh sự rối rắm không đáng có. Chỉ
riêng đối với những năm Giáp Tý thì chúng tôi có chua ở trong ngoặc đơn năm dương lịch để
cho tiện bề theo dõi.
Thứ hai, vấn đề tên tuổi của các nhân vật lịch sử thời đó. Đối với tên các nhân vật lịch sử Trung
Quốc, nhất là tên những người thuộc tộc Mông Cổ, chúng tôi cơ bản vẫn chấp nhận cách phiên
âm của Nguyên sử, trừ những trường hợp bị chép sai khi so với một số sử liệu khác. Trường
hợp này chúng tôi cho đính chính lại và có ghi chú rõ ràng. Nói thế có nghĩa chúng tôi cũng tái
dựng lại tên của những nhân vật này trong tiếng Mông Cổ và để trong ngoặc đơn, chứ không
thay thế tên đã được lưu hành trong sử sách Trung Quốc như một số nhà nghiên cứu đã làm
trước đây.
Trong liên hệ này cần nói một chút về chữ Thực của tên Việt gian Lê Thực. Trong tiếng Hán tên
này được viết () và các sử sách viết bằng tiếng quốc ngữ trước nay thường phiên âm là Tắc
hoặc Trắc. Tuy nhiên, ĐVSKTT 5 tờ 46b5-6, dưới chữ () ấy được chua là “thổ lực thiết”. Điều
này có nghĩa, ta phải đọc chữ ( ) là Thực thay vì Trắc hoặc Tắc. Thứ ba, về tên các nhà lãnh đạo
Việt Nam, cụ thể là các vị vua nhà Trần, do sử liệu Trung Quốc ghi lại. Đây là một vấn đề khó
khăn. Khi nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông của nhà Trần trong Annam shi
kenkyu, Yamamoto đã dành hẳn một chương để nghiên cứu vấn đề này, tức Chinchõ no omei
ni kansuru kenkyu.1 Dẫu thế, những kết luận của Yamamoto theo chúng tôi vẫn chưa thỏa
đáng lắm. Vì vậy, cần phải làm những nghiên cứu mới. Đây là một yêu cầu, mà ta phải thỏa mãn
để việc trình bày các sử kiện cũng như các tác phẩm liên hệ đến vua Trần Nhân Tông mới rõ
ràng và có tính thuyết phục cao.
Theo các sử liệu Trung Quốc, cụ thể là An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 1a8 và 1b4, thì vị
vua đầu tiên của nhà Trần là Trần Nhật Cảnh, “đến tháng hai năm Mậu Ngọ thì Nhật Cảnh
truyền nước cho con trưởng là Quang Bính, cải nguyên là Thiệu Long... ”. Điều này hoàn toàn
phù hợp với những gì do Ngô Sĩ Liên chép lại trong ĐVSKTT.
ĐVSKTT quyển 5 tờ 24a4-6 viết: “Ngày 24 tháng 2 năm Mậu Ngọ, vua nhường ngôi cho Hoàng
Thái tử, rút lui về ở Bắc cung. Thái tử lên ngôi Hoàng đế cải nguyên là Thiệu Long”. Vậy rõ ràng
Quang Bính của Nguyên sử là một tên khác của vua Trần Thánh Tông trong ĐVSKTT.
Tiếp đến, An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 3b13 viết: “Năm (Chí Nguyên) 14, Quang Bính
chết, người trong nước lập thế tử Nhật Huyên, sai trung thị đại phu Châu Trọng Ngạn, trung
lượng đại phu Ngô Đức Thiệu đến chầu”. Năm Chí Nguyên thứ 14 tức năm 1277. Đây đúng là
năm vua Trần Thái Tông Nhật Cảnh mất, như ĐVSKTT 5 tờ 59a6-7 đã ghi. Chính dựa vào năm
mất này của Quang Bính, mà Yamamoto đã đi đến kết luận Quang Bính chính là một tên khác
của vua Trần Thái Tông và Trần Nhật Huyên là tên của vua Trần Thánh Tông.
Tuy nhiên, Bản kỷ của Nguyên sử 10 tờ 4a12 lại chép: “Năm (Chí Nguyên) 15, tháng sáu ngày
Tân Tỡ, vua nước An Nam là Trần Quang Bính sai sứ dâng biểu đến cống”. Rõ ràng nếu Quang
Bính chết vào năm Chí Nguyên thứ 14 (1277) thì tất nhiên đến năm Chí Nguyên thứ 15 không
thể nào gửi sứ đến cống được. Yamamoto cho là An Nam truyện chép nhầm 14 thành 15. Song
một đề xuất như thế tỏ ra không thuyết phục lắm, vì nếu Quang Bính là một tên khác của vua
Trần Thánh Tông, thì năm Chí Nguyên 15 vẫn còn gửi sứ qua Nguyên. Dù với trường hợp nào
đi nữa, trong Nguyên sử ta có hai thông tin khác nhau về Quang Bính. Một nói Quang Bính chết
năm 1277, và một nói Quang Bính năm 1278 còn gửi sứ qua cống. Vậy không thể đơn giản chỉ
dựa vào năm mất của Quang Bính ở An Nam truyện của Nguyên sử để kết luận Quang Bính là
tên vua Trần Thánh Tông, như Yamamoto đã làm.
Ngoài ra, Bản kỷ của Nguyên sử 10 tờ 13b3-4 chép: “Ngày Nhâm Tý tháng 11 năm Chí Nguyên
16 (1279) sai Lễ bộ thượng thư Sài Thung cùng đi với sứ nước An Nam là Đỗ trung tán đem
chiếu đến dụ thế tử An Nam là Trần Nhật Huyên vào chầu”. Điều này xác định tên Nhật Huyên
chỉ xuất hiện trong sử sách Trung Quốc vào thời điểm, khi vua Trần Nhân Tông đã lên ngôi, tức
tháng 10 năm Mậu Dần (1278), như ĐVSKTT 5 tờ 37b9 - 38a1 đã ghi cùng với việc vua Trần
Nhân Tông sau đó đã tiếp phái bộ của Sài Thung.
Thêm vào đó, tên Trần Nhật Huyên còn xuất hiện một năm sau khi vua Trần Thánh Tông đã
mất, tức năm Chí Nguyên thứ 28 (1291). Bản kỷ của Nguyên sử 16 tờ 11b8-9 chép: “Năm (Chí
Nguyên) thứ 28 tháng 9 ngày Tân Hợi, vua An Nam là Trần Nhật Huyên sai sứ dâng biểu cống
phương vật, vừa để tạ tội không đến chầu”.
Sự kiện này, Yamamoto có đề cập tới, nhưng cho đây là một chép sai. Tuy nhiên, căn cứ vào
những sự kiện, như ta vừa thấy trên và theo cách đồng nhất của chúng tôi, thì Trần Nhật Huyên
ở đây chính là vua Trần Nhân Tông, chứ không phải vua Trần Thánh Tông. Cần nhớ là Bản kỷ
của Nguyên sử chép Quang Bính còn sai sứ qua Nguyên sau khi vua Trần Thái Tông đã chết
được một năm. Một lần nữa, vua Thánh Tông đã mất một năm, mà Nhật Huyên còn gửi sứ. Việc
đồng nhất Quang Bính với vua Trần Thánh Tông và Nhật Huyên với vua Trần Nhân Tông cho
phép ta không cần phải nại đến những giả thiết của sự chép sai. Thực tế, Bản kỷ ít chép sai hơn
phần Liệt truyện nhiều, bởi vì Bản kỷ chỉ ghi chép dựa vào Khởi cư chú, tức nhật ký những việc
làm của vua hằng ngày như tiếp sứ, nhận biểu tấu, ra chiếu chỉ v.vỢ, trong khi Liệt truyện phải
tổng hợp nhiều nguồn tư liệu khác nhau, do đó dễ đưa đến sai sót.
Hơn nữa, Kinh thế đại điển tự lục do Triệu Thế Diên và Ngu Tập soạn vào những năm 13301331, về mục Chinh phạt, mà sau này được sao lại vào Nguyên văn loại 41 tờ 26b1 đến 27b6,
chép ở tờ 27a8 việc “Đường Ngột Đãi đuổi Nhật Huyên và Thượng hoàng đến cửa biển An
bang”. Một lần nữa, Nhật Huyên lại có Thượng hoàng. Nếu Nhật Huyên là vua Trần Thánh
Tông, và vua Trần Thái Tông đã mất vào năm 1277, thì làm gì vào năm 1285, khi cuộc chiến
tranh lần thứ hai nổ ra, lại có mặt Thượng hoàng Trần Thái Tông.
Chỉ dựa trên bốn chứng cứ này thôi thì Nhật Cảnh không còn nghi ngờ gì nữa phải là vua Trần
Thái Tông, Quang Bính phải là vua Trần Thánh Tông và Nhật Huyên là vua Trần Nhân Tông.
Tuy nhiên, cũng có hai chi tiết để Yamamoto nghĩ rằng Trần Nhật Huyên chính là vua Trần
Thánh Tông.
Thứ nhất là việc An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 10a9 ghi: “Năm (Chí Nguyên) 27, Nhật
Huyên chết, con là Nhật Tôn sai sứ đến cống”. Năm Chí Nguyên 27 (1290) là năm vua Trần
Thánh Tông mất, như ĐVSKTT 5 tờ 59a6-7 đã ghi.
Chi tiết thứ hai là việc An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 7a10-12 ghi lại báo cáo mô tả
những gì, mà quân Nguyên khi chiếm Thăng Long đã thấy được trong cuộc chiến tranh năm
1285. Theo đó thì “Nhật Huyên tiếm xưng Đại Việt quốc chúa, Hiến Thiên Thể Đạo Đại Minh
Quang Hiếu hoàng đế Trần Uy Hoảng, nhường ngôi cho Hoàng thái tử, lập Hoàng thái tử phi
làm hoàng hậu. (...) Nhật Huyên liền ở ngôi Thái Thượng hoàng, thấy lập vua nước An Nam
thuộc hệ con của Nhật Huyên, lưu hành niên hiệu Thiệu Bảo”. Hiến Thiên Thể Đạo Đại Minh
Quang Hiếu hoàng đế đúng là tôn hiệu của vua Trần Thánh Tông như ĐVSKTT 5 tờ 24b8 đã
ghi. Và niên hiệu Thiệu Bảo đúng là niên hiệu của vua Trần Nhân Tông, mà ở đây được xác
định là niên hiệu thuộc con của Nhật Huyên.
Căn cứ vào hai chi tiết này, Nhật Huyên quả là tên chỉ vua Trần Thánh Tông, và Nhật Tôn quả
chỉ vua Trần Nhân Tông. Tuy vậy, không thể hoàn toàn dựa vào hai chi tiết này để xác định
Quang Bính là tên vua Trần Thái Tông, Nhật Huyên là tên vua Trần Thánh Tông và Nhật Tôn là
tên vua Trần Nhân Tông, như Yamamoto đã làm. Lý do nằm ở chỗ nếu đem hai chứng cớ này
so với bốn chứng cớ trên thì chỉ số lượng thôi cũng không cho phép ta đi đến một kết luận kiểu
ấy.
Sự thật, tất cả rối rắm đấy có nguyên do của nó. Nguyên do thứ nhất là sự lên ngôi và thoái vị
của các vua Việt Nam cho đến thời đại vua Trần Nhân Tông và trở về sau thường không được
báo cáo hoàn toàn chính xác trong các văn thư gửi cho các vua Trung Quốc. Chẳng hạn, ngay từ
thời Đinh Tiên Hoàng, Đinh Liễn đã viết thư cho vua Tống như là lãnh tụ tối cao của nước Đại
Cồ Việt, chứ không phải là Đinh Tiên Hoàng, như Tống sử ghi. Gần hơn, sau thời vua Trần
Nhân Tông, ta thấy An Nam truyện của Nguyên sử ghi rời rạc tên của những người kế nghiệp
như Nhật Sủy vào năm Chí Đại thứ 5 (1311), Nhật Khoáng năm Thái Định thứ nhất (1324), mà
trong sử liệu Việt Nam, cụ thể là ĐVSKTT, ta không bao gờ tìm thấy những tên người như thế.
Xuất phát từ những văn thư qua lại không chính xác này giữa Việt Nam và Trung Quốc, sự rối
rắm càng gia tăng vào thời điểm vua Trần Nhân Tông lãnh đạo kháng chiến trong cuộc chiến
tranh năm 1285, do sự có mặt của một số tên Việt gian đầu hàng giặc như Trần Ích Tắc, Trần
Văn Lộng, Lê Thực trong hàng ngũ đối phương. Chính bọn này đã cung cấp những báo cáo
nhiều mặt về đất nước ta, trong đó chắc chắn có cả việc lên ngôi và thoái vị của các vua chúa
Việt Nam và quan hệ giữa họ với nhau. Chính từ những báo cáo của chúng và từ những văn thư
vừa nói đã tạo nên mớ hỗn độn mâu thuẫn, như vừa thấy ở trên. Và đấy là nguyên do thứ hai.
Do thế, ta không thể dựa vào các sử liệu Trung Quốc để đồng nhất các tên do chúng ghi lại với
tên các vị vua có trong sử liệu Việt Nam. Phải hoàn toàn dựa vào sử liệu Việt Nam, lấy chúng
làm cơ sở để xác định tên các vị vua xuất hiện trong sử liệu Trung Quốc là ai. Sử liệu Trung
Quốc trong trường hợp này chỉ dùng để tham khảo.
Quan điểm chúng tôi, vì vậy, không chấp nhận cách giải quyết của Yamamoto bằng việc đồng
nhất Quang Bính với vua Trần Thái Tông, Nhật Huyên với vua Trần Thánh Tông và Nhật Tôn
với vua Trần Nhân Tông, do việc những sử liệu không cho phép đồng nhất một cách dễ dàng
như thế, ngay cả về phía Trung Quốc, mà ta đã thấy trên. Chúng có quá nhiều mâu thuẫn. Cho
nên, cách giải quyết của chúng tôi là lấy chính sử Việt Nam làm sử liệu cơ bản. Căn cứ trên các
cơ sở sử liệu này, chúng tôi coi Quang Bính chính là vua Trần Thánh Tông, Nhật Huyên và Nhật
Tôn chính là những tên gọi khác nhau của vua Trần Nhân Tông, còn Nhật Sủy và Nhật Khoáng
là chỉ vua Trần Anh Tông và vua Trần Minh Tông. Đặc biệt, việc đồng nhất Nhật Huyên và Nhật
Tôn với vua Trần Nhân Tông, vì vua Trần Nhân Tông là đối tượng nghiên cứu của chúng ta.
Sự đồng nhất các tên gọi kể trên xuất phát từ hai nguồn sử liệu khác nhau. Thứ nhất, về phía
Trung Quốc, cụ thể là Nguyên sử Bản kỷ và Kinh thế đại điển tự lục, đều xác nhận Quang Bính
sống cho đến năm Chí Nguyên 15 (1278) trong khi vua Trần Thái Tông mất trước đó một năm
(1277), và Nhật Huyên năm 1279 mới sai sứ qua cống cho đến năm 1291, nghĩa là sau khi
Trần Thánh Tông mất một năm và có Thượng hoàng của mình trong cuộc chiến năm 1285.
Và thứ hai, về phía sử liệu Việt Nam, Hồ Nguyên Trừng và Ngô Sĩ Liên cho rằng “Gia pháp của
họ Trần... thì khi con đã lớn liền cho nối ngôi chính, cha lui ở cung Thánh Từ xưng là Thượng
hoàng, cùng trông coi chính sự, kỳ thực chỉ truyền ngôi để yên việc sau, phòng khi thảng thốt
mà thôi, chứ mọi việc đều do ở Thượng hoàng quyết định cả” (Nam ông mộng lục, tờ 3a7-9 và
ĐVSKTT 5 tờ 24a9-b3). Song trong trường hợp vua Trần Nhân Tông, dù Thượng hoàng Thánh
Tông đang còn, nhưng tất cả mọi việc đều chính do vua Trần Nhân Tông quyết định. Thí dụ
điển hình là sự kiện “Đỗ Hành chỉ được phong quan nội hầu, vì khi bắt được Ô Mã Nhi không
dâng lên vua mà lại dâng lên Thượng hoàng”, như ĐVSKTT 5 tờ 56b9 - 57a1 đã ghi. Việc Đỗ
Hành không được phong tước cao này rõ ràng xác định vai trò của vua Trần Nhân Tông trong
sự lãnh đạo và quyết định công việc của đất nước. Thực tế, ĐVSKTT đã ghi chính vua Trần
Nhân Tông đã tiếp các phái bộ của Trung Quốc từ cuối năm 1278 cho đến khi mất.
Sự thật, việc nghiên cứu vua Trần Nhân Tông cũng như bất cứ nhân vật lịch sử nào của Việt
Nam, tất nhiên phải lấy các sử liệu Việt Nam làm chính. Song vào thời vua Trần Nhân Tông,
nước ta có những quan hệ ngoại giao và quân sự với Trung Quốc. Quan hệ ấy đặc biệt đã để lại
cho ta một số sự kiện và tác phẩm mang tên những người lãnh đạo đất nước ta, nhưng lại
không có trong chính sử của Việt Nam. Vì vậy, nó đòi hỏi ta phải xác định các tên vừa nêu liên
hệ với những nhân vật nào có mặt trong chính sử ấy. Ngay một sự kiện vua nhà Trần đã đổi tên
mình trong quan hệ ngoại giao với Trung Quốc đã cho thấy ít nhiều ý đồ các hoàng đế Đại Việt
không muốn cho phía Trung Quốc biết rõ nhân thân của các nhà lãnh đạo Việt Nam. Việc dài
dòng bàn cãi để đ...
Lê Mạnh Thát
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
Table of Contents
Lời Tựa
Chương I: Vấn đề sử liệu
Chương II: Tuổi trẻ vua Trần Nhân Tông
Chương III: Vua Trần Nhân Tông và cuộc chiến tranh vệ quốc năm 1285
Chương IV: Vua Trần Nhân Tông và cuộc chiến tranh vệ quốc năm 1288
Chương V: Vua Trần Nhân Tông và sự nghiệp xây dựng hòa bình thời hậu chiến
Chương VI: Thượng hoàng Trần Nhân Tông xuất gia
Chương VII: Một số vấn đề tư tưởng vua Trần Nhân Tông
Chương VIII: Vị trí văn học của vua Trần Nhân Tông
Chương IX: Vua Trần Nhân Tông với thiền phái Trúc Lâm
Lời dẫn
Thơ Trần Nhân Tông
Phú Trần Nhân Tông
Bài giảng Trần Nhân Tông
Ngữ lục
Văn xuôi Trần Nhân Tông
Văn thư ngoại giao
Lời Tựa
Vua Trần Nhân Tông là một vị anh hùng dân tộc, có những đóng góp to lớn, nhiều mặt cho đất
nước, cho lịch sử. Vua đã trực tiếp lãnh đạo quân và dân nước ta, tập hợp được những nhà
quân sự tài giỏi, huy động được tiềm lực của toàn dân, đánh thắng đội quân hung hãn, thiện
chiến nhất thời bấy giờ, làm nên những chiến công oanh liệt Hàm Tử, Chương Dương, Bạch
Đằng, Tây Kết lẫy lừng, đưa dân tộc ta lên đỉnh cao của thời đại. Không những thế, vua đã mở
rộng biên cương của tổ quốc, đặt nền móng vững chắc cho sự nghiệp nam tiến hoành tráng của
dân tộc, mà con cháu hôm nay và mai sau mãi mãi ghi nhớ và biết ơn.
Thêm vào đó, nền văn hóa Việt Nam thời đại vua Trần Nhân Tông đã xuất hiện hai sự kiện có ý
nghĩa hết sức trọng đại. Thứ nhất là việc dùng tiếng Việt như một ngôn ngữ hành chánh chính
thức của triều đình cùng với tiếng Hán.
Đây là lần đầu tiên việc sử dụng tiếng Việt đã được ghi lại bằng minh văn. Các triều đại trước
chắc chắn đã ít nhiều dùng tiếng Việt, nhưng cho đến nay ta không có bất cứ một xác minh nào.
Chính dưới thời vua Nhân Tông, mà một sự kiện như thế đã chính thức được chép lại. Phải nói
rằng, tiếng Việt sử dụng chính thức này đã tạo điều kiện cho sự ra đời một loạt các tác phẩm
văn học tiếng Việt từ Tiều Ẩn quốc ngữ thi tập của Chu Văn An, cho đến bản dịch Kinh Thi của
Hồ Quí Ly, cùng các bài thơ của Nguyễn Biểu, Trần Trùng Quang, nhà sư chùa An Quốc. Đặc
biệt là Quốc Âm thi tập của Nguyễn Trãi và bản dịch kinh Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân
trọng và Phật thuyết báo phụ mẫu ân trọng tiếng Việt xưa nhất hiện còn, có thể là của thiền sư
Viên Thái.
Sự kiện thứ hai là việc vua Trần Nhân Tông đã thành lập dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử thuần
túy Việt Nam với chủ trương Cư trần lạc đạo. Triều vua Trần Nhân Tông có những biến động
chính trị, quân sự to lớn qua việc hai lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông và việc sát
nhập hai châu Ô, Lý vào bản đồ Đại Việt, cùng những biêện động học thuật với việc sử dụng
tiếng Việt như một ngôn ngữ chính thức cùng với tiếng Hán, thì tất nhiên phải có những biến
động về tư tưởng. Giữa những biến động này chứng tỏ có quan hệ biện chứng. Không thể có
biến động này xảy ra mà không kéo theo một biến động khác xuất hiện.
Chính từ những biến động đó, mà dòng thiền Trúc Lâm ra đời, không những làm nền tảng cho
sự phát triển Phật giáo Việt Nam mấy trăm năm tiếp theo, mà còn tạo tiền đề cho sự nghiệp
nam tiến của dân tộc trong mấy trăm năm ấy.
Không phải ngẫu nhiên vị sáng tổ của phái Thảo Đường là vua Lý Thánh Tông mở đầu cho sự
nghiệp Nam tiến vào năm 1069. Rồi vua Trần Nhân Tông đặt nền móng cho sự nghiệp đó với
việc thành lập hai châu Thuận và Hóa. Và gần đúng 400 năm sau, Bồ tát giới Hưng Long
Nguyễn Phúc Chu đã chính thức sai tướng Nguyễn Hữu Cảnh đi thiết lập thành phố Sài Gòn và
gầy dựng Nam Bộ thành một bộ phận không thể phân ly của tổ quốc Việt Nam. Phải có một lý
luận đằng sau những người con ưu tú này của dân tộc. Vì Cư trần lạc đạo phú của vua Trần
Nhân Tông được bảo tồn qua các truyền bản lưu giữ trong các tự viện của dòng thiền Trúc
Lâm, lần đầu tiên ta có một văn bản để nghiên cứu cơ sở lý luận vừa nói.
Sự nghiệp văn trị và võ công của vua Trần Nhân Tông vĩ đại như thế. Trải qua 700 năm lịch sử,
sự nghiệp này đã được nhiều lần đánh giá và ca ngợi, từ những người đồng thời như Trương
Hán Siêu, Trần Minh Tông, Phạm Sư Mạnh cho đến những người về sau như Nguyễn Trãi, Ngô
Sỹ Liên, Lê Quí Đôn, Ngô Thì Nhiệm v.v Và sự nghiệp văn học và tác phẩm của vua Trần Nhân
Tông cũng đã từng bước được sưu tập như Việt âm thi tập, Toàn Việt thi lục, Tam tổ thực lục,...
Nhưng cho đến nay, trong công tác sưu tập này vẫn còn có những thiếu sót. Chẳng hạn toàn bộ
các văn thư ngoại giao do vua Trần Nhân Tông viết cho vua quan nhà Nguyên vẫn chưa được
thu thập và công bố đầy đủ, tối thiểu là trong giới hạn của những nguồn tư liệu hiện tại bảo lưu
và cho phép.
Chúng tôi, do thế, đề nghị giới thiệu lại sự nghiệp võ công và văn trị cùng những tác phẩm văn
học, mà vua Trần Nhân Tông đã để lại cho chúng ta đến ngày hôm nay. Toàn tập Trần Nhân
Tông ra đời là một thể hiện nỗ lực ấy.
Toàn tập này được chia làm hai phần. Phần đầu giới thiệu tổng quát sự nghiệp võ công và văn
trị qua 9 chương nghiên cứu từng vấn đề, từ tuổi trẻ cho đến vai trò nhà vua trong hai cuộc
chiến tranh 1285 và 1288, cũng như trong việc mở mang bờ cõi, sử dụng tiếng Việt và thành
lập dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Phần hai công bố các tác phẩm văn học từ thơ phú, văn xuôi,
bài giảng, ngữ lục cho đến các văn thư ngoại giao, nhằm cung cấp tư liệu cho những ai quan
tâm nghiên cứu nhiều mặt về lịch sử Việt Nam nói chung và bản thân vua Trần Nhân Tông nói
riêng.
Cuối cùng, để cung cấp tài liệu tham khảo và kiểm soát, chúng tôi cho in lại toàn bộ các văn bản
chữ Hán và Quốc âm, mà chúng tôi sử dụng để phiên âm hay dịch nghĩa. Trong trường hợp có
nhiều bản khác nhau, chúng tôi chọn những bản xưa nhất hiện có làm bản đáy và cho in, còn
các bản khác thì được dùng làm khảo dị.
Toàn tập này về cơ bản hoàn thành vào năm 1977, nhưng đến nay mới được công bố trọn vẹn.
Tuy vậy, chỉ có một điều đáng tiếc là trong số các tác phẩm của vua Trần Nhân Tông do chúng
tôi sưu tầm được trong những năm 1974-1975 và trước đó, thì trong lần công bố này thiếu
mất bản dịch chú Lăng Nghiêm do Bồ Đề Thất Lỡ (Bodhiri) truyền đạt, Bảo Sát bút thọ và vua
Trần Nhân Tông nhuận sắc. Đây có thể nói là một trong những bản dịch cuối cùng từ tiếng
Phạn ra tiếng Hán tại nước ta và của Viễn Đông và có sự tham gia của nhà vua.
Bản chúng tôi tìm thấy tại chùa Từ Quang tỉnh Phú Yên là một bản in thời Cảnh Hưng không
còn nguyên vẹn lắm.
Những trang đầu có lời tựa đã bị mất, chỉ còn tờ cuối. Còn năm đệ chú Lăng Nghiêm thì bốn đệ
đầu còn nguyên, đệ cuối cùng bị rách và chỉ còn đoạn phiến. Về phần Thập chú cũng bị mất.
Sau mỗi cụm từ Phạn in cỡ chữ lớn có hai hàng chữ Hán dịch nghĩa in cỡ chữ nhỏ. Rất tiếc bản
này đã bị thất lạc trong năm 1984. Chúng tôi hy vọng những ai đang giữ bản in ấy, vì lợi ích
chung của nền học thuật nước nhà, xin công bố, để làm tư liệu nghiên cứu cho việc tìm hiểu
không những chính các đóng góp của vua Trần Nhân Tông đối với dân tộc và Phật giáo, mà còn
lịch sử văn hóa và tư tưởng Việt Nam nói chung.
Vạn Hạnh
Tiết trùng dương năm Kỷ Mão
Lê Mạnh Thát
PHẦN I
NGHIÊN CỨU VỀ TRẦN NHÂN TÔNG
--o0o--
CHƯƠNG I
VẤN ĐỀ SỬ LIỆU
Vua Trần Nhân Tông đã được sử sách qua hàng trăm năm đánh giá là một hoàng đế anh minh,
một lãnh tụ thiên tài, một vị anh hùng dân tộc. Do thế, cuộc đời vua được ghi chép tương đối tỉ
mỉ, khi so với cuộc đời của một số danh nhân khác của dân tộc. Dẫu vậy, vẫn có những chi tiết
không rõ ràng, đặc biệt liên hệ với các tác phẩm của nhà vua. Cho nên, để dựng lại những nét
chính của cuộc đời vua Trần Nhân Tông, nhằm làm cơ sở cho việc nghiên cứu những đóng góp
to lớn, mà nhà vua đã cống hiến cho đất nước về các mặt võ công và văn trị, ta phải huy động
tới những nguồn tư liệu khác nhau, hiện được bảo lưu tại nước ta cũng như tại Trung Quốc.
Trước hết, về phía các nguồn tư liệu Việt Nam thì tư liệu cơ bản nhất, ta phải quan tâm, dĩ
nhiên là bộ ĐVSKTT, phần Bản kỷ của vua Trần Nhân Tông, do Ngô Sĩ Liên lấy lại từ Đại Việt sử
ký của Phan Phu Tiên. Đây là bộ sử đầu nguồn, mà các bộ sử sau như Việt sử tiêu án của Ngô
Thì Sỹ (1726-1780), và Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều
Nguyễn đã sử dụng để viết về vị vua anh minh này. Dù có tham khảo thêm các sử liệu khác, chủ
yếu xuất phát từ Trung Quốc, chúng cũng không có đóng góp gì mới. Thậm chí có điểm còn sai
lạc thêm.
Vì vậy, khi nghiên cứu vua Trần Nhân Tông, ĐVSKTT vẫn là nguồn tư liệu cấp một.
Tuy nhiên, có những khía cạnh và sự việc của cuộc đời vua Trần Nhân Tông, mà ĐVSKTT đã
không ghi lại hoặc ghi lại một cách sơ sài thiếu sót. Ví dụ những ngày cuối đời của nhà vua,
ĐVSKTT chép không rõ ràng lắm, khi so với những gì do Thánh đăng ngữ lục chép lại. Do vậy,
ngoài ĐVSKTT, chúng ta may mắn còn được một số các tài liệu đời Trần hoặc do người viết về
sau, mà chúng ta phải tham khảo. Cụ thể là Thánh đăng ngữ lục, Thiền tông bản hạnh, Thượng
sĩ ngữ lục, Việt điện u linh tập, Nam ông mộng lục và Việt âm thi tập.
Thánh đăng ngữ lục là một tác phẩm ghi chép lại các thiền ngữ và thơ văn của các vị vua đồng
thời là thiền sư của đời Trần, tức các vua Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông và
Minh Tông. Có thể nói đây là bộ sử Phật giáo Việt Nam từ năm 1226 khi vua Trần Thái Tông
lên ngôi cho đến năm 1357 lúc vua Trần Minh Tông mất. Người viết bộ Ngữ lục này, ngày nay
không thấy ghi chép. Tuy nhiên, căn cứ vào nội dung tác phẩm, ta biết tác giả phải là một người
rất gần gũi với vua Trần Minh Tông, và khi viết, phải được sự đồng ý của vị vua kế nghiệp là
Trần Dụ Tông và triều đình.
Lý do nằm ở chỗ, thứ nhất, nếu không gần gũi với các vị vua Trần, đặc biệt là vua Trần Minh
Tông, thì người viết không có được những tư liệu đầu tay để viết nên bộ Ngữ lục ấy, như ta có
hôm nay. Thứ hai, nếu không được phép của vua và triều đình, bộ Ngữ lục ấy sẽ không bao giờ
được viết, và nếu có viết lén thì không bao giờ được công bố, vì nội dung nó có nhiều điều,
thậm chí nhiều văn kiện, liên hệ với các vua. Từ đó, trong số những tác gia Việt Nam được biết
tên sống sau năm 1357 và có những điều kiện như vừa nói, ta thấy có thiền sư Kim Sơn, người
có quan hệ chặt chẽ với vua Minh Tông và được chứng kiến những giây phút cuối đời của vị
vua này. Nói cách khác, ngoài khả năng là tác giả của Thiền uyển tập anh và Cổ châu Pháp vân
Phật bản hạnh ngữ lục, thiền sư Kim Sơn cũng có thể là người biên soạn Thánh đăng ngữ lục.
Thực tế, Thánh đăng ngữ lục được viết theo phương pháp thực lục, nghĩa là phương pháp dùng
để ghi chép sự việc hàng ngày, chủ yếu của các vị vua, mà sử gia Trung Quốc thường dùng. Cho
nên, đếữn thế kỷ thứ 18, nhằm dựng lại thiền phả của dòng thiền Trúc Lâm, thiền sư Tính
Quảng và Ngô Thời Nhiệm (1746 - 1803) đã trích phần Trần Nhân Tông của Thánh đăng ngữ
lục, ghép với bản Niên phổ của Pháp Loa khắc trên bia tại chùa Thanh Mai và tiểu sử của
Huyền Quang chép trong Tổ gia thực lục, để soạn nên tác phẩm Tam tổ thực lục. Điều đáng chú
ý là dù viết theo phương pháp thực lục, Thánh đăng ngữ lục chỉ cơ bản ghi lại các sự việc liên
quan tới hoạt động Phật giáo của các vị vua thiền sư, mà tuyệt đối không có bất cứ ghi chép
nào quan hệ tới hoạt động chính trị và quân sự của họ. Dẫu thế, Thánh đăng ngữ lục vẫn là một
tư liệu đáng quý, đặc biệt khi ta nghiên cứu các hoạt động Phật giáo của vua Trần Nhân Tông.
Hơn thế nữa, Thánh đăng ngữ lục đã là nguồn tài liệu để cho thiền sư Chân Nguyên (16471726) sử dụng và viết nên tác phẩm Thiền tông bản hạnh. Điểm đặc biệt của bản Thiền tông
bản hạnh này là khi in vào năm 1745, người đứng in đã cho in kèm vào 3 tác phẩm tiếng Việt
và Ngộ đạo nhân duyên của chính Chân Nguyên. Trong 3 tác phẩm tiếng Việt ấy, thì 2 là của
vua Trần Nhân Tông. Đó là Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca. Hai bài phú
này, dù đến năm 1745 mới được khắc bản, nhưng chắc chắn đã tồn tại trong thế kỷ thứ 17, bởi
vì Chân Nguyên đã trích dẫn Cư trần lạc đạo phú trong tác phẩm Kiến tánh thành Phật do ông
viết vào khoảng những năm 1684.
Ngoài Thánh đăng ngữ lục, ta còn có Thượng sĩ ngữ lục của Tuệ Trung Trần Quốc Tung, một
danh tướng giải phóng Thăng Long của cuộc chiến tranh 1285, đã được in dưới thời Trần Anh
Tông, vào khoảng những năm 1308-1311. Bộ Ngữ lục nay có chứa đựng tiểu sử của Tuệ Trung
Trần Quốc Tung (1230 -1290) do chính vua Trần Nhân Tông viết.
Bản tiểu sử ấy cho thấy một phần nào quá trình tiếp cận và học tập Phật giáo cùng văn tài của
nhà vua. Không những thế, nó còn ghi lại thêm cho ta một bài thơ, mà vua đã làm để ca ngợi
đại sĩ Tuệ Trung.
Bên cạnh đó, Việt điện u linh tập do Lý Tế Xuyên viết vào khoảng những năm 1329, tuy chủ yếu
ghi lại các anh hùng, liệt nữ và hạo khí anh linh của đất nước ta, cũng đã lần đầu tiên ghi chép
việc Trần Nhân Tông phong tặng gia hiệu cho các anh hùng, liệt nữ và hạo khí anh linh ấy vào
những năm Trùng Hưng thứ nhất (1285) và thứ tư (1288). Sự kiện này không thấy ĐVSKTT ghi
lại, nhưng về mặt văn hóa có một ý nghĩa hết sức thú vị. Đó là lần đầu tiên một thần điện Việt
Nam ra đời được nhà nước chính thức công khai thừa nhận. Việt điện u linh tập do thế có một
vị trí khá lôi cuốn trong việc soi sáng cho ta một số quan điểm của vua Trần Nhân Tông về quá
khứ thần thánh của dân tộc.
Nam ông mộng lục do Hồ Nguyên Trừng viết vào năm 1438 ở Trung Quốc. Trong 31 thiên
truyện do ông ghi lại, ta thấy Hồ Nguyên Trừng đã dành 4 thiên để ghi về vua Trần Nhân Tông.
Đó là các thiên về Trúc Lâm thị tịch (số 2), Tổ linh định mệnh (số 3), Cảm kích đồ hành (số 17)
và Thi ý thanh tân (số 19), nghĩa là chiếm 15% nội dung tác phẩm. Qua những ghi chép này, ta
không những được cung cấp thêm một số sự kiện và văn bản liên hệ tới vuaTrần Nhân Tông,
mà còn thấy được một phần nào những tác động và ảnh hưởng, mà vua Trần Nhân Tông đã có
đối với hậu thế.
Cuối cùng là Việt âm thi tập. Tác phẩm này là một thành quả của cuộc vận động chấn hưng văn
hoá dân tộc sau khi đánh đuổi quân Minh và phục hồi nền độc lập dân tộc của vị anh hùng Lê
Lợi. Nó được biên soạn trong giai đoạn Phan Phu Tiên đang còn làm ở Quốc sử quán vào năm
1334 và sau đó được Chu Xa hoàn thành vào năm Diên Ninh thứ sáu (1443). Về phần Trần
Nhân Tông, Phan Phu Tiên và Chu Xa đã thu thập được 26 bài thơ. Nguồn tư liệu sử dụng chắc
hẳn xuất phát từ những tác phẩm, mà Quốc sử quán đã tập hợp được và Phan Phu Tiên dùng để
viết nên bộ Đại Việt sử ký tục biên.
Điểm đáng chú ý là có bài thơ Hạnh Thiên Trường phủ, Việt âm thi tập bảo là của Trần Nhân
Tông và chép xuất xứ là từ Quốc sử. Quốc sử đây tức chắc chắn làĐại Việt sử ký tục biên của
chính Phan Phu Tiên. Thế nhưng bản ĐVSKTT ngày nay, xuất phát từ Nội các quan bản, lại chép
là của Trần Thánh Tông. Khảo Nam ông mộng lục, thì bài thơ đó cũng được ghi là của Trần
Thánh Tông. Vậy bản Việt âm thi tập in năm Bảo Thái thứ 7 (1727) có sự sai sót nào chăng?
Bản Việt âm thi tập này sau đó đã được dùng làm nguồn tư liệu cho các tác phẩm có ghi chép
về thơ văn của các vua quan đời Trần. Điển hình là bộ sách đồ sộ Toàn Việt thi lục của Lê Quý
Đôn và Trần triều thế phả hành trạng của một tác giả vô danh đời Nguyễn. Về phần Trần Nhân
Tông, Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn, sau khi loại bài thơ Hạnh Thiên Trường phủ, cũng chỉ
giới hạn trong số 26 bài thơ, mà Việt âm thi tập đã có, chứ không bổ sung thêm được bài nào.
Thánh đăng ngữ lục đươc thiền sư Chân Nguyên in vào năm 1705 và bản in do Tính Quảng đề
tựa vào năm 1750 đã không đến tay Lê Quý Đôn. Vì vậy, ông đã không thể khai thác số thơ văn
có ghi chép trong tác phẩm đó. Trần triều thế phả hành trạng càng giới hạn hơn, chỉ ghi lại
được hơn 18 bài.
Còn về nguồn tư liệu Trung Quốc, thì Nguyên sử, đặc biệt là phần viết về đất nước ta biết dưới
mục An Nam truyện, cung cấp một phần lớn các thông tin liên hệ đến hai cuộc chiến tranh
Mông - Việt vào những năm 1285 và 1288 và những quan hệ ngoại giao trước và sau hai cuộc
chiến tranh này. Để bổ sung, ta có An Nam chí lược của Lê Thực, Thiên nam hành ký của Từ
Minh Thiện và Trần Cương Trung thi tập của Trần Phu. Các tác giả của ba tác phẩm này đều là
những người cùng thời với vua Trần Nhân Tông, đã đứng về phía kẻ thù của dân tộc và tham
gia trực tiếp vào các hoạt động chính trị, quân sự liên hệ với nước ta dưới dạng này hay dạng
khác. Cho nên, dù nhìn những hoạt động ấy dưới lăng kính đối lập với quyền lợi của dân tộc, họ
vẫn cho ta một số thông tin chính trị và quân sự có quan hệ với vua Trần Nhân Tông.
Đặc biệt, họ đã giữ lại cho ta 22 văn kiện ngoại giao, mà vua Trần Nhân Tông đã gửi cho vua
quan nhà Nguyên. Đây là một mảng tư liệu, phía nước ta trong bảy trăm năm qua tuy có biết
đến, nhưng chưa bao giờ khai thác có hệ thống và công bố đầy đủ, nhằm làm cơ sở cho sự nhận
thức về cuộc đấu tranh ngoại giao đầy cam go trước và sau hai cuộc chiến tranh vừa nói. Chẳng
hạn, Lê Quí Đôn có nhắc tới Thiên nam hành ký và Sứ Giao tập của Trần Cương Trung thi tập,
song chỉ nhặt được một bài thơ của Trần Phu trong Kiến văn tiểu lục.
Ngoài ra, một bức họa do Trần Giám Như vẽ mang tên Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ vào năm
Chí Chính thứ 23 (1363) đã được Trần Quang Chỉ đề từ vào năm Vĩnh Lạc thứ 18 (1420) ghi lại
tóm tắt cuộc đời Trần Nhân Tông tương đối tổng quát, có một số chi tiết khá lôi cuốn.
Tuy nhiên, khi sử dụng các nguồn tư liệu Trung Quốc, ta gặp một số vấn đề cần phải giải quyết
dứt điểm. Thứ nhất, về vấn đề lịch pháp thì những người nghiên cứu cho đến ngày nay đã
thống nhất là hệ thống lịch pháp nước ta thời bấy giờ hoàn toàn phù hợp với hệ thống lịch
pháp của Trung Quốc đời Nguyên. Cho nên những năm tháng ghi ra các sử kiện giữa những sử
liệu Việt Nam và Trung Quốc không có sai lệch gì nhiều. Nếu về cùng một sự kiện mà có những
sai lệch thì, hoặc do những thông tin khác nhau, hoặc do những truyền bản ghi chép bị nhầm
lẫn. Trong Toàn tập này, chúng tôi chủ yếu sử dụng hệ thống ngày tháng của lịch pháp ta, và chỉ
đổi ra ngày tháng dương lịch ở những nơi cần thiết để tránh sự rối rắm không đáng có. Chỉ
riêng đối với những năm Giáp Tý thì chúng tôi có chua ở trong ngoặc đơn năm dương lịch để
cho tiện bề theo dõi.
Thứ hai, vấn đề tên tuổi của các nhân vật lịch sử thời đó. Đối với tên các nhân vật lịch sử Trung
Quốc, nhất là tên những người thuộc tộc Mông Cổ, chúng tôi cơ bản vẫn chấp nhận cách phiên
âm của Nguyên sử, trừ những trường hợp bị chép sai khi so với một số sử liệu khác. Trường
hợp này chúng tôi cho đính chính lại và có ghi chú rõ ràng. Nói thế có nghĩa chúng tôi cũng tái
dựng lại tên của những nhân vật này trong tiếng Mông Cổ và để trong ngoặc đơn, chứ không
thay thế tên đã được lưu hành trong sử sách Trung Quốc như một số nhà nghiên cứu đã làm
trước đây.
Trong liên hệ này cần nói một chút về chữ Thực của tên Việt gian Lê Thực. Trong tiếng Hán tên
này được viết () và các sử sách viết bằng tiếng quốc ngữ trước nay thường phiên âm là Tắc
hoặc Trắc. Tuy nhiên, ĐVSKTT 5 tờ 46b5-6, dưới chữ () ấy được chua là “thổ lực thiết”. Điều
này có nghĩa, ta phải đọc chữ ( ) là Thực thay vì Trắc hoặc Tắc. Thứ ba, về tên các nhà lãnh đạo
Việt Nam, cụ thể là các vị vua nhà Trần, do sử liệu Trung Quốc ghi lại. Đây là một vấn đề khó
khăn. Khi nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông của nhà Trần trong Annam shi
kenkyu, Yamamoto đã dành hẳn một chương để nghiên cứu vấn đề này, tức Chinchõ no omei
ni kansuru kenkyu.1 Dẫu thế, những kết luận của Yamamoto theo chúng tôi vẫn chưa thỏa
đáng lắm. Vì vậy, cần phải làm những nghiên cứu mới. Đây là một yêu cầu, mà ta phải thỏa mãn
để việc trình bày các sử kiện cũng như các tác phẩm liên hệ đến vua Trần Nhân Tông mới rõ
ràng và có tính thuyết phục cao.
Theo các sử liệu Trung Quốc, cụ thể là An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 1a8 và 1b4, thì vị
vua đầu tiên của nhà Trần là Trần Nhật Cảnh, “đến tháng hai năm Mậu Ngọ thì Nhật Cảnh
truyền nước cho con trưởng là Quang Bính, cải nguyên là Thiệu Long... ”. Điều này hoàn toàn
phù hợp với những gì do Ngô Sĩ Liên chép lại trong ĐVSKTT.
ĐVSKTT quyển 5 tờ 24a4-6 viết: “Ngày 24 tháng 2 năm Mậu Ngọ, vua nhường ngôi cho Hoàng
Thái tử, rút lui về ở Bắc cung. Thái tử lên ngôi Hoàng đế cải nguyên là Thiệu Long”. Vậy rõ ràng
Quang Bính của Nguyên sử là một tên khác của vua Trần Thánh Tông trong ĐVSKTT.
Tiếp đến, An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 3b13 viết: “Năm (Chí Nguyên) 14, Quang Bính
chết, người trong nước lập thế tử Nhật Huyên, sai trung thị đại phu Châu Trọng Ngạn, trung
lượng đại phu Ngô Đức Thiệu đến chầu”. Năm Chí Nguyên thứ 14 tức năm 1277. Đây đúng là
năm vua Trần Thái Tông Nhật Cảnh mất, như ĐVSKTT 5 tờ 59a6-7 đã ghi. Chính dựa vào năm
mất này của Quang Bính, mà Yamamoto đã đi đến kết luận Quang Bính chính là một tên khác
của vua Trần Thái Tông và Trần Nhật Huyên là tên của vua Trần Thánh Tông.
Tuy nhiên, Bản kỷ của Nguyên sử 10 tờ 4a12 lại chép: “Năm (Chí Nguyên) 15, tháng sáu ngày
Tân Tỡ, vua nước An Nam là Trần Quang Bính sai sứ dâng biểu đến cống”. Rõ ràng nếu Quang
Bính chết vào năm Chí Nguyên thứ 14 (1277) thì tất nhiên đến năm Chí Nguyên thứ 15 không
thể nào gửi sứ đến cống được. Yamamoto cho là An Nam truyện chép nhầm 14 thành 15. Song
một đề xuất như thế tỏ ra không thuyết phục lắm, vì nếu Quang Bính là một tên khác của vua
Trần Thánh Tông, thì năm Chí Nguyên 15 vẫn còn gửi sứ qua Nguyên. Dù với trường hợp nào
đi nữa, trong Nguyên sử ta có hai thông tin khác nhau về Quang Bính. Một nói Quang Bính chết
năm 1277, và một nói Quang Bính năm 1278 còn gửi sứ qua cống. Vậy không thể đơn giản chỉ
dựa vào năm mất của Quang Bính ở An Nam truyện của Nguyên sử để kết luận Quang Bính là
tên vua Trần Thánh Tông, như Yamamoto đã làm.
Ngoài ra, Bản kỷ của Nguyên sử 10 tờ 13b3-4 chép: “Ngày Nhâm Tý tháng 11 năm Chí Nguyên
16 (1279) sai Lễ bộ thượng thư Sài Thung cùng đi với sứ nước An Nam là Đỗ trung tán đem
chiếu đến dụ thế tử An Nam là Trần Nhật Huyên vào chầu”. Điều này xác định tên Nhật Huyên
chỉ xuất hiện trong sử sách Trung Quốc vào thời điểm, khi vua Trần Nhân Tông đã lên ngôi, tức
tháng 10 năm Mậu Dần (1278), như ĐVSKTT 5 tờ 37b9 - 38a1 đã ghi cùng với việc vua Trần
Nhân Tông sau đó đã tiếp phái bộ của Sài Thung.
Thêm vào đó, tên Trần Nhật Huyên còn xuất hiện một năm sau khi vua Trần Thánh Tông đã
mất, tức năm Chí Nguyên thứ 28 (1291). Bản kỷ của Nguyên sử 16 tờ 11b8-9 chép: “Năm (Chí
Nguyên) thứ 28 tháng 9 ngày Tân Hợi, vua An Nam là Trần Nhật Huyên sai sứ dâng biểu cống
phương vật, vừa để tạ tội không đến chầu”.
Sự kiện này, Yamamoto có đề cập tới, nhưng cho đây là một chép sai. Tuy nhiên, căn cứ vào
những sự kiện, như ta vừa thấy trên và theo cách đồng nhất của chúng tôi, thì Trần Nhật Huyên
ở đây chính là vua Trần Nhân Tông, chứ không phải vua Trần Thánh Tông. Cần nhớ là Bản kỷ
của Nguyên sử chép Quang Bính còn sai sứ qua Nguyên sau khi vua Trần Thái Tông đã chết
được một năm. Một lần nữa, vua Thánh Tông đã mất một năm, mà Nhật Huyên còn gửi sứ. Việc
đồng nhất Quang Bính với vua Trần Thánh Tông và Nhật Huyên với vua Trần Nhân Tông cho
phép ta không cần phải nại đến những giả thiết của sự chép sai. Thực tế, Bản kỷ ít chép sai hơn
phần Liệt truyện nhiều, bởi vì Bản kỷ chỉ ghi chép dựa vào Khởi cư chú, tức nhật ký những việc
làm của vua hằng ngày như tiếp sứ, nhận biểu tấu, ra chiếu chỉ v.vỢ, trong khi Liệt truyện phải
tổng hợp nhiều nguồn tư liệu khác nhau, do đó dễ đưa đến sai sót.
Hơn nữa, Kinh thế đại điển tự lục do Triệu Thế Diên và Ngu Tập soạn vào những năm 13301331, về mục Chinh phạt, mà sau này được sao lại vào Nguyên văn loại 41 tờ 26b1 đến 27b6,
chép ở tờ 27a8 việc “Đường Ngột Đãi đuổi Nhật Huyên và Thượng hoàng đến cửa biển An
bang”. Một lần nữa, Nhật Huyên lại có Thượng hoàng. Nếu Nhật Huyên là vua Trần Thánh
Tông, và vua Trần Thái Tông đã mất vào năm 1277, thì làm gì vào năm 1285, khi cuộc chiến
tranh lần thứ hai nổ ra, lại có mặt Thượng hoàng Trần Thái Tông.
Chỉ dựa trên bốn chứng cứ này thôi thì Nhật Cảnh không còn nghi ngờ gì nữa phải là vua Trần
Thái Tông, Quang Bính phải là vua Trần Thánh Tông và Nhật Huyên là vua Trần Nhân Tông.
Tuy nhiên, cũng có hai chi tiết để Yamamoto nghĩ rằng Trần Nhật Huyên chính là vua Trần
Thánh Tông.
Thứ nhất là việc An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 10a9 ghi: “Năm (Chí Nguyên) 27, Nhật
Huyên chết, con là Nhật Tôn sai sứ đến cống”. Năm Chí Nguyên 27 (1290) là năm vua Trần
Thánh Tông mất, như ĐVSKTT 5 tờ 59a6-7 đã ghi.
Chi tiết thứ hai là việc An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 7a10-12 ghi lại báo cáo mô tả
những gì, mà quân Nguyên khi chiếm Thăng Long đã thấy được trong cuộc chiến tranh năm
1285. Theo đó thì “Nhật Huyên tiếm xưng Đại Việt quốc chúa, Hiến Thiên Thể Đạo Đại Minh
Quang Hiếu hoàng đế Trần Uy Hoảng, nhường ngôi cho Hoàng thái tử, lập Hoàng thái tử phi
làm hoàng hậu. (...) Nhật Huyên liền ở ngôi Thái Thượng hoàng, thấy lập vua nước An Nam
thuộc hệ con của Nhật Huyên, lưu hành niên hiệu Thiệu Bảo”. Hiến Thiên Thể Đạo Đại Minh
Quang Hiếu hoàng đế đúng là tôn hiệu của vua Trần Thánh Tông như ĐVSKTT 5 tờ 24b8 đã
ghi. Và niên hiệu Thiệu Bảo đúng là niên hiệu của vua Trần Nhân Tông, mà ở đây được xác
định là niên hiệu thuộc con của Nhật Huyên.
Căn cứ vào hai chi tiết này, Nhật Huyên quả là tên chỉ vua Trần Thánh Tông, và Nhật Tôn quả
chỉ vua Trần Nhân Tông. Tuy vậy, không thể hoàn toàn dựa vào hai chi tiết này để xác định
Quang Bính là tên vua Trần Thái Tông, Nhật Huyên là tên vua Trần Thánh Tông và Nhật Tôn là
tên vua Trần Nhân Tông, như Yamamoto đã làm. Lý do nằm ở chỗ nếu đem hai chứng cớ này
so với bốn chứng cớ trên thì chỉ số lượng thôi cũng không cho phép ta đi đến một kết luận kiểu
ấy.
Sự thật, tất cả rối rắm đấy có nguyên do của nó. Nguyên do thứ nhất là sự lên ngôi và thoái vị
của các vua Việt Nam cho đến thời đại vua Trần Nhân Tông và trở về sau thường không được
báo cáo hoàn toàn chính xác trong các văn thư gửi cho các vua Trung Quốc. Chẳng hạn, ngay từ
thời Đinh Tiên Hoàng, Đinh Liễn đã viết thư cho vua Tống như là lãnh tụ tối cao của nước Đại
Cồ Việt, chứ không phải là Đinh Tiên Hoàng, như Tống sử ghi. Gần hơn, sau thời vua Trần
Nhân Tông, ta thấy An Nam truyện của Nguyên sử ghi rời rạc tên của những người kế nghiệp
như Nhật Sủy vào năm Chí Đại thứ 5 (1311), Nhật Khoáng năm Thái Định thứ nhất (1324), mà
trong sử liệu Việt Nam, cụ thể là ĐVSKTT, ta không bao gờ tìm thấy những tên người như thế.
Xuất phát từ những văn thư qua lại không chính xác này giữa Việt Nam và Trung Quốc, sự rối
rắm càng gia tăng vào thời điểm vua Trần Nhân Tông lãnh đạo kháng chiến trong cuộc chiến
tranh năm 1285, do sự có mặt của một số tên Việt gian đầu hàng giặc như Trần Ích Tắc, Trần
Văn Lộng, Lê Thực trong hàng ngũ đối phương. Chính bọn này đã cung cấp những báo cáo
nhiều mặt về đất nước ta, trong đó chắc chắn có cả việc lên ngôi và thoái vị của các vua chúa
Việt Nam và quan hệ giữa họ với nhau. Chính từ những báo cáo của chúng và từ những văn thư
vừa nói đã tạo nên mớ hỗn độn mâu thuẫn, như vừa thấy ở trên. Và đấy là nguyên do thứ hai.
Do thế, ta không thể dựa vào các sử liệu Trung Quốc để đồng nhất các tên do chúng ghi lại với
tên các vị vua có trong sử liệu Việt Nam. Phải hoàn toàn dựa vào sử liệu Việt Nam, lấy chúng
làm cơ sở để xác định tên các vị vua xuất hiện trong sử liệu Trung Quốc là ai. Sử liệu Trung
Quốc trong trường hợp này chỉ dùng để tham khảo.
Quan điểm chúng tôi, vì vậy, không chấp nhận cách giải quyết của Yamamoto bằng việc đồng
nhất Quang Bính với vua Trần Thái Tông, Nhật Huyên với vua Trần Thánh Tông và Nhật Tôn
với vua Trần Nhân Tông, do việc những sử liệu không cho phép đồng nhất một cách dễ dàng
như thế, ngay cả về phía Trung Quốc, mà ta đã thấy trên. Chúng có quá nhiều mâu thuẫn. Cho
nên, cách giải quyết của chúng tôi là lấy chính sử Việt Nam làm sử liệu cơ bản. Căn cứ trên các
cơ sở sử liệu này, chúng tôi coi Quang Bính chính là vua Trần Thánh Tông, Nhật Huyên và Nhật
Tôn chính là những tên gọi khác nhau của vua Trần Nhân Tông, còn Nhật Sủy và Nhật Khoáng
là chỉ vua Trần Anh Tông và vua Trần Minh Tông. Đặc biệt, việc đồng nhất Nhật Huyên và Nhật
Tôn với vua Trần Nhân Tông, vì vua Trần Nhân Tông là đối tượng nghiên cứu của chúng ta.
Sự đồng nhất các tên gọi kể trên xuất phát từ hai nguồn sử liệu khác nhau. Thứ nhất, về phía
Trung Quốc, cụ thể là Nguyên sử Bản kỷ và Kinh thế đại điển tự lục, đều xác nhận Quang Bính
sống cho đến năm Chí Nguyên 15 (1278) trong khi vua Trần Thái Tông mất trước đó một năm
(1277), và Nhật Huyên năm 1279 mới sai sứ qua cống cho đến năm 1291, nghĩa là sau khi
Trần Thánh Tông mất một năm và có Thượng hoàng của mình trong cuộc chiến năm 1285.
Và thứ hai, về phía sử liệu Việt Nam, Hồ Nguyên Trừng và Ngô Sĩ Liên cho rằng “Gia pháp của
họ Trần... thì khi con đã lớn liền cho nối ngôi chính, cha lui ở cung Thánh Từ xưng là Thượng
hoàng, cùng trông coi chính sự, kỳ thực chỉ truyền ngôi để yên việc sau, phòng khi thảng thốt
mà thôi, chứ mọi việc đều do ở Thượng hoàng quyết định cả” (Nam ông mộng lục, tờ 3a7-9 và
ĐVSKTT 5 tờ 24a9-b3). Song trong trường hợp vua Trần Nhân Tông, dù Thượng hoàng Thánh
Tông đang còn, nhưng tất cả mọi việc đều chính do vua Trần Nhân Tông quyết định. Thí dụ
điển hình là sự kiện “Đỗ Hành chỉ được phong quan nội hầu, vì khi bắt được Ô Mã Nhi không
dâng lên vua mà lại dâng lên Thượng hoàng”, như ĐVSKTT 5 tờ 56b9 - 57a1 đã ghi. Việc Đỗ
Hành không được phong tước cao này rõ ràng xác định vai trò của vua Trần Nhân Tông trong
sự lãnh đạo và quyết định công việc của đất nước. Thực tế, ĐVSKTT đã ghi chính vua Trần
Nhân Tông đã tiếp các phái bộ của Trung Quốc từ cuối năm 1278 cho đến khi mất.
Sự thật, việc nghiên cứu vua Trần Nhân Tông cũng như bất cứ nhân vật lịch sử nào của Việt
Nam, tất nhiên phải lấy các sử liệu Việt Nam làm chính. Song vào thời vua Trần Nhân Tông,
nước ta có những quan hệ ngoại giao và quân sự với Trung Quốc. Quan hệ ấy đặc biệt đã để lại
cho ta một số sự kiện và tác phẩm mang tên những người lãnh đạo đất nước ta, nhưng lại
không có trong chính sử của Việt Nam. Vì vậy, nó đòi hỏi ta phải xác định các tên vừa nêu liên
hệ với những nhân vật nào có mặt trong chính sử ấy. Ngay một sự kiện vua nhà Trần đã đổi tên
mình trong quan hệ ngoại giao với Trung Quốc đã cho thấy ít nhiều ý đồ các hoàng đế Đại Việt
không muốn cho phía Trung Quốc biết rõ nhân thân của các nhà lãnh đạo Việt Nam. Việc dài
dòng bàn cãi để đ...
 





